Phụng Vụ - Mục Vụ
Mỗi Ngày Một Câu Chuyện
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. ·
00:01 15/05/2026
26. CÁC LÃO (1) VẠN TUẾ
Thành Hóa tháng mười một năm Tân Mão triều đại nhà Minh, trên trời xuất hiện sao chổi, các quan đại thần triều đình rất kinh hoàng, cho rằng đó là duyên cớ ngăn cản làm cho tình ý trời đất xa cách.
Các lão Bành Thời và các quan đại thần xin vào yết kiến hoàng đế để thảo luận phương pháp trước mặt hoàng đế. Thế là, các quan phục dịch trong hoàng cung vội đáp ứng yêu cầu của họ và đi thông báo, nhưng chiếu theo quan lệ của họ là không nói nhiều kẻo phí giờ.
Đợi khi hoàng đế tiếp kiến, các đại thần chỉ nói một câu:
- Hiện tượng trên trời biến hóa thật đáng sợ”.
Ngoài ra không nói một câu nào nữa.
Hoàng đế nói:
- “Biết rồi”.
Thế là Bành Thời, Vạn An, Thương Lộ các lão đều quỳ xuống khấu đầu lạy và đồng thanh hô lớn “vạn tuế”. Sau khi hoàng đế bãi trào, các thái giám nói:
- “Họ nói hoàng đế không triệu tập họ, đến khi được triệu kiến thì không có kiến nghị nào cho ra trò, chỉ là hoan hô “vạn tuế” mà thôi”.
Thiên hạ đem chuyện này đồn ra làm trò cười, gọi các đại thần là “các lão vạn tuế”.
(Ký Viên Ký Sở Ký)
Suy tư 26:
Thời giờ là vàng bạc nên ai cũng muốn nói ngắn gọn, làm việc cho nhanh, nhưng không ai muốn hưởng thụ nhanh chóng ngắn gọn...
Có một vài người Ki-tô hữu chủ trương đọc kinh ngắn gọn, cầu nguyện ngắn gọn, dâng lễ ngắn gọn, nhưng lại cầu xin rất nhiều, và bắt Chúa phải đáp ứng đủ những yêu cầu đòi hỏi của mình. Họ viện cớ bây giờ là thời đại laptop, thời đại USB, thời đại MP3, thời đại di động PDA.v.v...để ăn gian giờ cầu nguyện, để xén bớt giờ thánh lễ, và cũng có một vài người dâng mình làm tôi tớ Chúa cũng muốn ngắn gọn như thế.
Vì ngắn gọn nên các quan đại thần viện hàn lâm bị chế giễu là “các lão vạn tuế”, người ta cũng sẽ gọi những người Ki-tô hữu đọc kinh cầu nguyện ngắn gọn là đạo đức...nửa mùa.
Ôi, thật đáng buồn !
(1) Thời nhà Minh các cử nhân và học sĩ hàn lâm vào nội các làm việc gọi là “các lão”, không giới hạn ở đại thần nội các.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư)
-------
http://www.vietcatholic.net
https://www.facebook.com/jmtaiby
http://www.nhantai.info
Thành Hóa tháng mười một năm Tân Mão triều đại nhà Minh, trên trời xuất hiện sao chổi, các quan đại thần triều đình rất kinh hoàng, cho rằng đó là duyên cớ ngăn cản làm cho tình ý trời đất xa cách.
Các lão Bành Thời và các quan đại thần xin vào yết kiến hoàng đế để thảo luận phương pháp trước mặt hoàng đế. Thế là, các quan phục dịch trong hoàng cung vội đáp ứng yêu cầu của họ và đi thông báo, nhưng chiếu theo quan lệ của họ là không nói nhiều kẻo phí giờ.
Đợi khi hoàng đế tiếp kiến, các đại thần chỉ nói một câu:
- Hiện tượng trên trời biến hóa thật đáng sợ”.
Ngoài ra không nói một câu nào nữa.
Hoàng đế nói:
- “Biết rồi”.
Thế là Bành Thời, Vạn An, Thương Lộ các lão đều quỳ xuống khấu đầu lạy và đồng thanh hô lớn “vạn tuế”. Sau khi hoàng đế bãi trào, các thái giám nói:
- “Họ nói hoàng đế không triệu tập họ, đến khi được triệu kiến thì không có kiến nghị nào cho ra trò, chỉ là hoan hô “vạn tuế” mà thôi”.
Thiên hạ đem chuyện này đồn ra làm trò cười, gọi các đại thần là “các lão vạn tuế”.
(Ký Viên Ký Sở Ký)
Suy tư 26:
Thời giờ là vàng bạc nên ai cũng muốn nói ngắn gọn, làm việc cho nhanh, nhưng không ai muốn hưởng thụ nhanh chóng ngắn gọn...
Có một vài người Ki-tô hữu chủ trương đọc kinh ngắn gọn, cầu nguyện ngắn gọn, dâng lễ ngắn gọn, nhưng lại cầu xin rất nhiều, và bắt Chúa phải đáp ứng đủ những yêu cầu đòi hỏi của mình. Họ viện cớ bây giờ là thời đại laptop, thời đại USB, thời đại MP3, thời đại di động PDA.v.v...để ăn gian giờ cầu nguyện, để xén bớt giờ thánh lễ, và cũng có một vài người dâng mình làm tôi tớ Chúa cũng muốn ngắn gọn như thế.
Vì ngắn gọn nên các quan đại thần viện hàn lâm bị chế giễu là “các lão vạn tuế”, người ta cũng sẽ gọi những người Ki-tô hữu đọc kinh cầu nguyện ngắn gọn là đạo đức...nửa mùa.
Ôi, thật đáng buồn !
(1) Thời nhà Minh các cử nhân và học sĩ hàn lâm vào nội các làm việc gọi là “các lão”, không giới hạn ở đại thần nội các.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư)
-------
http://www.vietcatholic.net
https://www.facebook.com/jmtaiby
http://www.nhantai.info
Ngày 16/05: Chúa Cha yêu mến chúng ta – Nữ Tu Têrêsa Phùng Thị Yến – Dòng Mến Thánh Giá Thủ Đức.
Giáo Hội Năm Châu
01:49 15/05/2026
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thật, Thầy bảo thật anh em : anh em mà xin Chúa Cha điều gì, thì Người sẽ ban cho anh em nhân danh Thầy. 24 Cho đến nay, anh em đã chẳng xin gì nhân danh Thầy. Cứ xin đi, anh em sẽ được, để niềm vui của anh em nên trọn vẹn.
25 “Thầy đã dùng dụ ngôn mà nói những điều ấy với anh em. Sẽ đến giờ Thầy không còn dùng dụ ngôn mà nói với anh em nữa, nhưng Thầy sẽ nói rõ cho anh em về Chúa Cha, không còn úp mở. 26 Ngày ấy, anh em sẽ nhân danh Thầy mà xin, và Thầy không nói với anh em là Thầy sẽ cầu xin Chúa Cha cho anh em. 27 Thật vậy, chính Chúa Cha yêu mến anh em, vì anh em đã yêu mến Thầy, và tin rằng Thầy từ Thiên Chúa mà đến. 28 Thầy từ Chúa Cha mà đến và Thầy đã đến thế gian. Nay Thầy lại bỏ thế gian mà đến cùng Chúa Cha.”
Đó là Lời Chúa
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Khôi Phục Linh Hồn Đại Học
Vũ Văn An
14:35 15/05/2026
Tạp chí First Things, số ngày 30 tháng 4, 2026, vừa đăng tải một tiểu luận của Đức Cha Robert Barron. Tiểu luận này vốn được trình bày trong chuỗi bài giảng First Things 2026 Neuhaus tại Đại học New College of Florida.

Đại học đương thời được thừa nhận rộng rãi là đang trong khủng hoảng. Sự mất lòng tin của công chúng, việc tăng học phí không ngừng và các cuộc tranh luận gay gắt về tự do ngôn luận và học thuật đã đặt ra câu hỏi về mục đích và tính hợp pháp của định chế. Tuy nhiên, những cuộc khủng hoảng và áp lực bên ngoài tưởng chừng như riêng biệt này được hiểu rõ nhất như những triệu chứng của một mâu thuẫn sâu xa hơn—một mâu thuẫn chạm đến tận cốt lõi của sự tự nhận thức của trường đại học và, ở một bình diện sâu hơn nữa, đến quan niệm về con người mà trường hiện hữu để phục vụ.
Ngày càng nhiều, trường đại học coi giáo dục không phải là một giá trị nội tại mà chỉ là một công cụ—một phương tiện để đạt được an ninh kinh tế, uy tín xã hội và sự tự khẳng định bản thân. Trường đại học được hình dung lại như một nhà cung cấp dịch vụ, sinh viên như một người tiêu dùng. Đối với nhiều người, chương trình học bốn năm không phải là giai đoạn đào tạo trí thức mà là mùa tự khám phá, một khoảng thời gian tự do cuối cùng trước khi những nghĩa vụ của cuộc sống trưởng thành ập đến.
Khi giáo dục bị lệ thuộc vào việc tự tạo ra bản thân thay vì hướng đến việc theo đuổi chân lý, quan niệm rằng sinh viên nên tuân phục một khối kiến thức và truyền thống sư phạm kế thừa trở nên không thể chấp nhận được. Chương trình giảng dạy truyền thống, các tiêu chuẩn kỷ luật và các cơ quan trí thức ngày càng bị nhìn nhận với sự nghi ngờ như là tàn dư của một quá khứ đàn áp hoặc là trở ngại cho tự do bản thân. Ở nhiều cơ sở giáo dục, sự nghi ngờ này không chỉ được dung thứ mà còn được nuôi dưỡng. Sinh viên được rèn luyện để tiếp cận các văn bản, lập luận và truyền thống không phải với mục đích tìm kiếm giá trị nội tại hay chân lý mà chúng có thể tiết lộ, mà là bằng cách đặt câu hỏi về lợi ích của ai mà chúng phục vụ, ai bị gạt ra ngoài lề và cấu trúc thống trị nào mà chúng củng cố. Do đó, đời sống trí thức được chuyển đổi từ một cuộc tìm kiếm chân lý chung thành một cuộc đấu tranh giữa các bản sắc và câu chuyện cạnh tranh.
Trong bầu không khí này, các chu kỳ phản kháng thường xuyên làm gián đoạn các điều kiện tư duy và học tập. Thẩm quyền, vốn từng thuộc về giáo viên, nay được chuyển giao cho sinh viên, khi định chế giáo dục trở nên bất an với quan điểm cho rằng chân lý có thể đi trước sự lựa chọn hoặc xâm phạm tự do. Giáo sư, không còn được xem là người khởi xướng một truyền thống hướng đến chân lý, được tái hình dung như một người tạo điều kiện cho sự tự kiến tạo.
Sự biến đổi triệt để của giáo dục đại học không thể được giải thích như một hiện tượng xã hội học hay hậu quả ngoài ý muốn của những sai lầm trong quản lý hoặc sư phạm. Nó báo hiệu một cuộc khủng hoảng nhân học—sự xói mòn niềm tin vào cấu trúc đạo đức và trí thức của con người. Ngày càng nhiều, trường đại học dường như không chắc chắn liệu con người có thực sự hướng đến chân lý, có khả năng tìm tòi không vụ lợi, hay có khả năng tiếp nhận ý nghĩa hơn là tự tạo ra nó. Trong bối cảnh như vậy, sự nghi ngờ là một nhân đức học thuật và tự do là một điều tốt tuyệt đối.
Rõ ràng là những tiền đề nhân học bi quan như vậy không phải là bản chất vốn có cũng như không tương thích với dự án của trường đại học khi chúng ta nhớ lại nguồn gốc của định chế này. Trường đại học không bắt đầu như một bộ máy cấp chứng chỉ hay một trung tâm hoạt động chính trị. Nó xuất hiện như một biểu thức định chế của một viễn kiến vô cùng rộng lượng về con người. Các nhà tư tưởng Kitô giáo thời Trung cổ hiểu con người là hình ảnh của Thiên Chúa (imago Dei) và, như vậy, được ban tặng sức mạnh trí tuệ và ý chí phi thường và được định sẵn cho nhận thức và tình yêu siêu việt. Con người được hiểu là vừa vật chất vừa tinh thần, sở hữu những sở thích và khát vọng phù hợp với từng khía cạnh trong bản chất của mình.
Trong khuynh hướng tò mò của con người, người thời Trung cổ nhìn thấy một dấu hiệu của bản chất tinh thần của chúng ta: khả năng bị cuốn hút bởi những thứ không mang lại lợi ích gì cho chúng ta trong các khía cạnh vật chất, kinh tế, xã hội hoặc chính trị của cuộc sống. Con người là capax universi, như họ nói, có khả năng chú ý đến toàn bộ thực tại - không chỉ những phần "hữu ích". Để trở thành một con người trọn vẹn là sở hữu mối quan tâm hoàn toàn không bị hạn chế này đối với toàn bộ hiện hữu.
Nhân học vĩ đại này được khắc ghi trong chính ý tưởng về trường đại học. Universitas không có nghĩa là đại diện cho một tập hợp lỏng lẻo các ngành chuyên môn, nghi ngờ lẫn nhau nhưng được thống nhất bởi một khuôn viên chung và bộ máy hành chính. Ban đầu, nó đại diện cho một cộng đồng nghiên cứu hướng đến toàn bộ thực tại—không chỉ là các ngành nghệ thuật và khoa học thực tiễn mà còn cả các ngành khoa học tự do, những ngành không bị ràng buộc bởi chủ nghĩa vị lợi. Trường đại học được thành lập để tôn vinh và nuôi dưỡng khả năng kinh ngạc chân chính, không vụ lợi của con người, điều mà người thời trung cổ coi là hiển nhiên.
Tuy nhiên, trong những thế kỷ gần đây, một ngành nhân học đối lập đã tự khẳng định mình với sự quyết liệt ngày càng tăng chống lại viễn kiến rộng lượng của người thời trung cổ—một ngành nhân học bi quan và đôi khi hoài nghi, đang được sử dụng rộng rãi. Trong dòng chính và giới tinh hoa học thuật, nhân học này mâu thuẫn trực tiếp với quan niệm về bản chất con người làm nền tảng cho dự án và chính ý tưởng về trường đại học.
Trong phần tiếp theo, tôi sẽ xem xét ngắn gọn bốn nhà tư tưởng hiện đại đóng vai trò là kiến trúc sư và đại diện cho nhân học bi quan này: Karl Marx, Friedrich Nietzsche, Jean-Paul Sartre và Michel Foucault. Mỗi người đều thể hiện một hình thức nghi ngờ hoặc chủ nghĩa hư vô đặc trưng tiếp tục định hình giới học thuật ngày nay. Để hiểu được cuộc khủng hoảng của trường đại học—và khả năng đổi mới của nó—trước tiên chúng ta phải chú ý đến quan niệm nhân học làm nền tảng cho nó.
Karl Marx thường được nhớ đến như một nhà lý luận kinh tế, nhưng một trong những di sản lâu dài và có ảnh hưởng nhất của ông là quan điểm giản lược về bản chất con người làm nền tảng cho hệ thống tư tưởng hoàn thiện của ông. Đối với Marx, con người không phải là capax universi; sự chú ý và định hướng của con người đối với thế giới được xác định bởi nhu cầu sản xuất và sử dụng. Con người là homo faber, người thợ thủ công tự tạo ra bản thân và thế giới của mình thông qua lao động. Marx phủ nhận chiều kích tinh thần của bản chất con người, điều mà đối với người thời trung cổ, đã tạo nên sự kinh ngạc vô tư. Theo ông, con người không bao giờ vượt lên trên những điều kiện vật chất của sự hiện hữu. Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, Marx khẳng định: “Con người có thể được phân biệt với động vật bằng ý thức, bằng tôn giáo hoặc bất cứ điều gì khác mà bạn muốn. Bản thân họ bắt đầu tự phân biệt mình với động vật ngay khi họ bắt đầu sản xuất ra phương tiện sinh tồn, một bước được quy định bởi cấu tạo vật chất của họ.” Thật khó để tưởng tượng một sự đoạn tuyệt triệt để hơn với truyền thống cổ điển của nhân học triết học và thần học.
Do đó, tư tưởng bị thu hẹp lại thành một khoảnh khắc trong thực tiễn, một biểu thức của các mối quan hệ xã hội và kinh tế hơn là một sự tiết lộ về bất cứ trật tự khả niệm nào vượt ra ngoài chúng. Vì vậy, trong luận đề thứ sáu nổi tiếng về Feuerbach, Marx tuyên bố: “Bản chất con người là tổng thể của các mối quan hệ xã hội.” Phân tích duy vật của Marx coi triết học như một hệ tư tưởng và gán ưu tiên giải thích cho các mối quan hệ kinh tế, quyền lực và nguồn lực vật chất như những lực lượng định hình hành động và lịch sử của con người. Các diễn ngôn của triết học, thần học, mỹ học và lý thuyết đạo đức không phải là những theo đuổi vô tư về chân lý, cái thiện và cái đẹp, mà là những cấu trúc thượng tầng ý thức hệ bảo vệ và che giấu những sắp đặt mà chúng phục vụ. Như Marx đã nói nổi tiếng: “Những tư tưởng thống trị của mỗi thời đại là những tư tưởng của giai cấp thống trị”. Cái được ngụy trang trong trường đại học như là sự kinh ngạc mang tính suy đoán thực chất là tuyên truyền phục vụ cho quyền lực. Trí tuệ không còn phản ánh thực tại; nó là một công cụ thống trị. Các nghiên cứu nhân bản mất đi tuyên bố về nền tảng siêu hình vô tư, và định chế dành cho chân lý vô tư—chính trường đại học—dường như là một vật trang trí ý thức hệ của trật tự kinh tế mà nó duy trì.
Trong khi Marx định nghĩa con người bằng nhu cầu vật chất và hoạt động sản xuất, Friedrich Nietzsche định nghĩa con người bằng ý chí quyền lực. Giống như Marx, Nietzsche bác bỏ chiều kích tinh thần được khẳng định bởi người thời trung cổ và hiểu con người như một lực lượng năng động tìm kiếm sự tự thể hiện, mở rộng và thống trị. Ẩn sâu bên dưới tư tưởng và giá trị con người không phải là khả năng tâm linh để kinh ngạc, mà là một khát vọng nguyên thủy.
Trong khuôn khổ này, nhận thức không còn là vấn đề tiếp nhận những gì hiện hữu, mà là một hành động diễn giải được thúc đẩy bởi động lực tự khẳng định của ý chí. Chân lý không tồn tại trước người biết; nó xuất hiện như một kết quả tạm thời của những ý chí cạnh tranh. Nietzsche nổi tiếng khẳng định: “Không có sự thật nào cả, chỉ có sự diễn giải”, và diễn giải là một biểu thức của quyền lực.
Do đó, tuyên bố “cái chết của Thiên Chúa” của Nietzsche không chỉ là một luận điểm xã hội học về sự suy giảm của niềm tin và thực hành tôn giáo. Nó đánh dấu sự sụp đổ của chân trời siêu hình mà trong đó con người được hiểu là một người tham gia vào một vũ trụ được phú cho ý nghĩa khả niệm– một vũ trụ mà tâm trí có thể chứng kiến trong sự kinh ngạc. Trước đây, sự kinh ngạc và tôn thờ là có thể vì thực tại tự hiến dâng cho một trí tuệ nhân bản dễ tiếp nhận. Nhưng một khi ý chí được nâng lên như nguồn gốc tối thượng của ý nghĩa, vũ trụ không còn có thể được coi là vốn dĩ khả niệm nữa. Về nguyên tắc, bất cứ ý nghĩa nào mà thực tại có thể sở hữu độc lập với ý chí đều trở nên không thể tiếp cận được, bởi vì ý chí không còn chờ đợi những gì hiện hữu mà tự khẳng định mình vượt lên trên nó.
Do đó, tầm nhìn nhân học của Nietzsche loại trừ những giả định đã tạo nên khả năng của trường đại học: rằng sự kinh ngạc của con người là có thật, rằng vũ trụ là đối tượng thích hợp của sự kinh ngạc đó, và rằng ý nghĩa—logos—có trước chúng ta và tự ban cho chúng ta. Sự kinh ngạc nhường chỗ cho sự tự khẳng định, và bởi vì tất cả các lời kêu gọi đến ý nghĩa giờ đây đều được hiểu là biểu hiện của ý chí quyền lực, nên những tuyên bố về tính khả niệm vốn có tự nhiên gây ra sự nghi ngờ. Các diễn ngôn về học vấn cao hơn bị vạch trần như những cuộc tranh giành giữa các câu chuyện đối lập. Người yêu thích khôn ngoan bị thay thế bởi một người phiên dịch hám lợi, đối với người đó ý nghĩa là một công cụ—hoặc một vũ khí—và homo contemplativus [con người chiêm niệm] nhường chỗ cho homo potens [con người quyền lực].
Bất chấp chủ nghĩa bài trừ thần tượng [iconoclasm] của mình, Nietzsche không từ bỏ ý tưởng cho rằng có điều gì đó có sẵn (given) trong con người. Mặc dù ông bác bỏ quan điểm cổ điển về bản chất con người được sắp đặt theo chân lý và cái thiện, ông vẫn giả định một điều gì đó giống như một bản chất cố định, có nền tảng hữu thể học: ý chí quyền lực nguyên thủy. Con người không tự tạo ra mình từ hư vô. Ý chí quyền lực là chân lý sâu sắc nhất về bản chất con người; đó là điều giải thích và thúc đẩy tư duy, hành động và lịch sử của con người. Do đó, dù Nietzsche có thù địch với chủ nghĩa hiện thực siêu hình đến đâu, ông vẫn giả định một bản chất con người không phải là sản phẩm của sự lựa chọn hay văn hóa.
Jean-Paul Sartre đã dứt khoát phá vỡ ngay cả sự cố định còn sót lại này. Trong quan điểm của ông, không có bản chất tiên nghiệm hay động lực thiết yếu nào mà từ đó cuộc sống và tư tưởng của con người bắt nguồn. Con người về cơ bản là không xác định. Khẩu hiệu của ông, “Hiện hữu có trước yếu tính”, cho thấy rằng một người trước hết hiện hữu và chỉ sau đó mới trở thành một cái gì đó thông qua các hành động tự định nghĩa tự do. Loại tự do triệt để, vô điều kiện mà Sartre muốn khẳng định đòi hỏi ông phải phủ nhận bất cứ bản chất xác định nào có thể hạn chế sự tự do đó hoặc quy chuẩn việc thực hiện nó. Con người không chỉ tự do hành động như một hữu thể thuộc loại này hay loại khác, mà còn tự do ngay cả đối với chính hữu thể của mình.
Người ta nhận thấy rằng nhân học đặc biệt của Sartre thể hiện sự chuyển đổi các quan điểm về Thiên Chúa theo chủ nghĩa ý chí sang góc nhìn của con người. Theo cách hiểu theo chủ nghĩa ý chí – được thể hiện ở một số nhân vật cuối thời trung cổ, một số nhà cải cách Tin lành, nhưng cũng ở cha đẻ của triết học hiện đại, René Descartes – chân lý cuối cùng là một hàm số của ý chí thần thánh: 2 + 2 = 4 chỉ vì Thiên Chúa đã định như vậy. Trong sự tự do hoàn toàn tối cao của mình, Người có thể đã định khác đi.
Những hàm ý của một nhân học như vậy đối với trường đại học là rất sâu rộng. Trường đại học không còn là định chế nhân bản ưu việt nhất – một định chế được định hướng để theo đuổi và hiện thực hóa những mục tiêu cao cả nhất vốn có của bản chất con người. Học tập và chiêm niệm, từng được coi trọng như những khát vọng đặc trưng của tinh thần con người, giờ đây bị hạ thấp xuống thành những dự án tùy chọn trong số nhiều dự án khác, thiếu đi bất cứ đòi hỏi nội tại nào đối với con người. Một trường đại học được thúc đẩy bởi viễn kiến hư vô này không còn coi học tập và chiêm niệm là mục tiêu chính yếu; thay vào đó, nó trở thành một xưởng tự tạo, nơi việc giảng dạy không còn hướng đến việc trau dồi sự hiểu biết và nhân đức trí thức.
Trong một định chế như vậy, tự do được đảm bảo chủ yếu thông qua sự chống lại sự ràng buộc: Các quy tắc, chuẩn mực và các hình thức trật tự kế thừa được đối xử với sự nghi ngờ, chỉ được coi trọng khi chúng phục vụ cho sự tự sáng tạo và tự phát biểu. Và cũng như Sartre đặt yếu tính dưới sự hiện hữu, thì ông cũng phải đặt chân lý dưới sự chi phối, bởi vì chân lý – do đặt ra những yêu cầu đối với chủ thể và do đó hạn chế tự do – không còn có thể hoạt động như chuẩn mực chi phối của định chế nữa. Trường đại học được thúc đẩy bởi nhân học này từ bỏ sứ mệnh đào tạo các tâm trí hướng tới điều hiện hữu và tự tái cấu trúc xung quanh mệnh lệnh bảo vệ và cổ vũ quyền tự quyết.
Viễn kiến nhân học của Michel Foucault xuất hiện trong cuộc đối thoại phê phán với chủ nghĩa nhân bản hiện sinh của Jean-Paul Sartre. Giống như Sartre, Foucault bác bỏ luận điểm cho rằng con người sở hữu bất cứ bản chất nào có sẵn hoặc được đặt nền tảng về mặt hữu thể học. Theo quan điểm này, bản ngã là một cấu trúc. Tuy nhiên, trong khi Sartre vẫn gán quyền tác giả cho chủ thể tự chủ, Foucault định hình lại bản ngã như là hiệu quả—thực chất là sản phẩm phụ—của các lực lượng xã hội và lịch sử dị biệt mà tính hợp pháp của chúng luôn luôn đáng ngờ.
Một bản ngã được cấu thành như vậy, cùng với các mô hình tư duy mà nó tạo ra, không bao giờ có thể đứng ngoài sự nghi ngờ. Được định hình bởi các chế độ quyền lực, cả chủ thể con người lẫn hoạt động trí thức của nó đều không thể được coi là có khả năng đáng tin cậy về chân lý. Càng không thể tin tưởng vào truyền thống diễn ngôn và lý thuyết của giới học thuật. Đối với Foucault, đây không phải là những nỗ lực vô tư để hiểu những gì đang hiện hữu, mà là những cơ chế thông qua đó sự thống trị được thực thi và duy trì.
Trong khuôn khổ này, nhà lý luận không thể được coi là người đang tìm cách hiểu thực tại. Những gì ông ta nói không được giải thích bằng tính đúng đắn của nó, mà bằng vị thế xã hội của ông ta; những tuyên bố của ông ta không được đọc như những hiểu biết sâu sắc, mà là kết quả của sự định hình cá nhân của ông ta; những lời kêu gọi tính phổ quát của ông ta được coi là những nỗ lực để giành lấy quyền lực. Lý thuyết không được hiểu là một nỗ lực để biết, mà là một cách để gây ảnh hưởng. Do đó, việc diễn giải quay lưng lại với ý nghĩa và hướng tới sự nghi ngờ—không hỏi văn bản nói gì, mà hỏi nó đang làm gì và tại sao.
Chính tại đây, chủ nghĩa hoài nghi của văn hóa học thuật đương thời hình thành. Nếu kiến thức luôn gắn liền với quyền lực, thì lòng tin trở thành sự ngây thơ, và sự đồng thuận trở thành sự đồng lõa. Sinh viên được đào tạo để tiếp cận các văn bản, truyền thống, và các định chế với một phương pháp giải thích nghiêm ngặt đầy nghi ngờ, tin chắc rằng những gì tự xưng là theo đuổi chân lý thực chất là một nỗ lực thống trị. Sự xuất sắc trong học thuật được đánh giá không phải bằng chiều sâu hiểu biết mà bằng sự sắc bén trong việc vạch trần những lợi ích ngầm. Tin rằng một nhà tư tưởng có thể thực sự nghĩ những gì ông ta nói, hoặc một ngành học có thể hướng đến chân lý hơn là kiểm soát, được coi là một thất bại về sự trưởng thành phê phán.
Do đó, trường đại học trở nên rất giỏi trong việc giải mã những điều huyền bí, nhưng lại ngày càng ít có khả năng diễn đạt lý do tại sao học tập là một điều tốt đẹp cần được theo đuổi, hoặc thực sự tại sao một tổ chức dành cho giáo dục đại học lại nên hiện hữu.
Nhìn trong bối cảnh này, điều mà ngày nay thường được gọi là "chủ nghĩa thức tỉnh" dường như không phải là một học thuyết mới mẻ mà là sự hội tụ phổ biến và mang tính đạo đức của các giả định nhân học đã hoạt động từ lâu trong các trường đại học hiện thời. Thói quen tư duy của nó - sự nghi ngờ phản xạ đối với quyền lực thừa kế, sự bất an với những tuyên bố về ý nghĩa và giá trị khách quan, và sự phản kháng đối với bất cứ lời kêu gọi nào về bản chất chung của con người - bắt nguồn từ một khuynh hướng tiêu cực rộng rãi đối với chính con người.
Nhân học đằng sau quan điểm này mang tính tiêu cực theo hai nghĩa khác biệt nhưng có liên quan. Về mặt đánh giá, nó cho rằng động cơ của con người bị chi phối sâu sắc bởi lợi ích cá nhân và ý chí thống trị đến mức ngay cả việc nghiên cứu lý thuyết và khát vọng học tập cao hơn cũng phải được giải thích theo những thuật ngữ đó. Về mặt hữu thể học, nó mang tính tiêu cực ở chỗ nó phủ nhận hoặc giảm thiểu thực tại của bất cứ bản chất con người nào có thể là nền tảng cho các chuẩn mực chung, mục tiêu chung hoặc tiêu chuẩn đánh giá ổn định.
Hai hình thức tiêu cực này tồn tại trong sự căng thẳng rõ rệt. Một hình thức giả định một bản chất ảm đạm; hình thức kia phủ nhận hoàn toàn bản chất. Sự mâu thuẫn này không phải là ngẫu nhiên. Nó phản ánh cả những nguồn gốc không đồng nhất mà phong trào dựa vào và sự ưu tiên của sự nghi ngờ hơn là tính mạch lạc. Dấu vết của chủ nghĩa duy giản lược kinh tế của Marx, ý chí quyền lực của Nietzsche, sự bác bỏ bản chất con người của Sartre và chủ nghĩa kiến tạo xã hội của Foucault cùng tồn tại trong cùng một không gian trí thức không phải vì chúng tạo thành một học thuyết thống nhất, mà vì mỗi học thuyết là một biểu thức của sự hoài nghi về sự chân thành, tự do và khả năng hiểu được của khát vọng con người. Kết quả là một nền nhân học bất ổn, được hình thành ở giao điểm của sự tự định hình bản thân mang tính hiện sinh và sự kiến tạo xã hội. Một mặt, cá nhân được tôn vinh như một thực thể tối cao, được trao quyền tự định nghĩa bản thân mà không cần tham chiếu đến một bản chất nhất định hay một hình thức chuẩn mực nào. Bản sắc được coi là một dự án của tự do diễn đạt, trên hết phải chịu trách nhiệm trước sự lựa chọn và tính chân thực. Mặt khác, chính cá nhân đó lại liên tục được mô tả như là sản phẩm của vị trí xã hội, các lực lượng kinh tế, sự định hình lịch sử và bản sắc nhóm. Ở một khía cạnh, bản thân được ca ngợi là tự chủ và tự định nghĩa; ở một khía cạnh khác, nó bị thu hẹp thành một trường hợp của một phạm trù – một vật mang các lực lượng cấu trúc định hình niềm tin, ham muốn và hành động. Trách nhiệm được đòi hỏi về mặt hùng biện trong khi bị xóa bỏ về mặt lý thuyết, và tự do được khẳng định chỉ để rồi bị giải thích một cách sai lệch.
Hơn nữa, cần phải nhận ra rằng phong trào "woke, thức tỉnh" không phải là nguồn gốc của sự nhầm lẫn này mà chỉ là biểu hiện văn hóa gần đây nhất của nó. Cuộc khủng hoảng sâu sắc hơn là sự mất niềm tin của phương Tây vào thực tại và sự tốt đẹp của bản chất con người. Những tổn thất chính của sự mất mát này trong lĩnh vực giáo dục đại học không chỉ đơn thuần là về mặt định chế—mặc dù sự suy thoái định chế là có thật—mà còn mang tính nhân bản sâu sắc. Sinh viên bị tước đoạt cơ hội tiếp xúc với trường đại học như một nơi đào tạo trí thức đích thực, nơi mà việc học tập giới thiệu cho họ thế giới như nó vốn có, đặt họ trong một chân trời ý nghĩa rộng lớn hơn, và định hình cả sự hiểu biết lẫn nhân cách. Theo nghĩa cổ điển, việc học tập như vậy tìm thấy sự viên mãn trong sự chiêm niệm: hành động đặc trưng của con người mà nhờ đó tâm trí tìm thấy sự an nghỉ trong chân lý và, khi làm như vậy, trở nên trọn vẹn nhất chính mình.
Thay vào đó, sinh viên ngày càng được đào tạo trong thói quen nghi ngờ và hoài nghi, khiến họ xa rời chính khả năng đạt được sự viên mãn đó, khiến họ giỏi phê phán nhưng không thể trải nghiệm và sống trong thế giới với sự kỳ diệu vốn có của tinh thần con người.
Ý nghĩa lâu dài của Josef Pieper, đặc biệt là cuốn sách "Leisure: The Basis of Culture [Giải trí: Nền tảng của Văn hóa]" của ông, không chỉ nằm ở việc ông bảo vệ sự chiêm niệm mà còn ở sự nhận thức của ông rằng nhận thức luận bắt nguồn từ nhân học. Những gì một nền văn hóa tin tưởng về đời sống trí tuệ—khả năng, bản chất và ý nghĩa của nó—phụ thuộc vào những gì nền văn hóa đó tin tưởng về con người. Một trường đại học đã khuất phục trước sự nghi ngờ và hoài nghi về bản chất con người sẽ thấy điều gì đó xấu xa đằng sau ngay cả những khát vọng và nỗ lực cao cả nhất của bản chất đó.
Tuy nhiên, những kết luận rút ra từ phương pháp diễn giải dựa trên sự nghi ngờ này thường gượng ép, phản trực giác và mang tính thiên vị. Chúng đòi hỏi chúng ta phải phủ nhận, trái ngược với mọi dấu hiệu, rằng con người thực sự tìm kiếm chân lý, thực sự xúc động trước cái đẹp và nhìn nhận thẩm quyền nội tại của điều thiện. Việc diễn giải những khát vọng này như những ảo tưởng hoặc những biểu hiện ngụy trang của ý chí quyền lực không phải là dấu hiệu của sự nghiêm túc mà là của sự bi quan và thiếu trung thực. Một tổ chức hướng đến học tập bậc cao không thể phát triển mạnh khi những thói quen tư duy như vậy định hình nền văn hóa trí thức của nó.
Chống lại những quan điểm nhân học tiêu cực thống trị phần lớn tư tưởng hiện đại, Pieper đưa ra một cách nhìn trực quan và tích cực một cách mới mẻ về ý nghĩa của việc làm người. Cách tiếp cận của ông chủ yếu mang tính mô tả. Ông không bác bỏ sự nghi ngờ mà làm cho nó trở nên vô hiệu bằng cách đưa ra một bức tranh thay thế chân thực hơn. Tầm nhìn của Pieper do đó đứng trong sự căng thẳng thầm lặng với bất cứ quan điểm nhân học nào thu hẹp tư tưởng thành lao động, ý chí, sự tự khẳng định hoặc điều kiện xã hội. Chống lại những quan điểm này, ông giả định rằng con người sở hữu một bản chất nhất định được sắp xếp vượt ra ngoài sự sinh tồn, quyền lực và sự tự xây dựng - một bản chất có khả năng kinh ngạc, tiếp nhận ý nghĩa và mở lòng với toàn bộ thực tại. Tư duy thực dụng do các nhà triết học hiện đại khai mở đã trở nên phổ biến đến mức, và những thành tựu kỹ thuật của nó hữu ích đến nỗi, hầu hết những người đương thời của chúng ta vẫn bị mê hoặc, thậm chí không thể tưởng tượng ra một cách tư duy khác. Josef Pieper đã dành phần lớn năng lực trí thức của mình cho việc khám phá lại điều mà ông gọi là “hành động triết học”. Trong một số tác phẩm của mình, ông mô tả nó là “khả năng thiết lập mối quan hệ với toàn bộ thực tại, với tất cả mọi thứ hiện hữu”, hay “khả năng liên hệ với toàn thể hiện hữu”. Điều này không có nghĩa là đưa mọi vật thể trong vũ trụ ra trước tâm trí để xem xét chi tiết; mà đúng hơn là nắm bắt được điều mà tất cả những thứ hiện hữu hoặc thậm chí có thể tồn tại đều phải có điểm chung. Do đó, theo thuật ngữ của A-ris-tốt, đó là nghiên cứu về hiện hữu, không phải theo bất cứ đặc điểm cụ thể nào, mà chính xác là như hiện hữu. “Hành động triết học” của Pieper về mặt chức năng tương đương với câu hỏi die Frage nach dem Sein [câu hỏi về hiện hữu] của Heidegger, và nó đặt ra câu hỏi, “Tại sao lại phải có cái gì đó chứ không phải là không có gì?” Thánh Tô-ma A-qui-nô đã chứng minh điều đó khi ngài nói về quỹ đạo của trí tuệ tác nhân hướng tới esse [hiện hữu] thuần túy, và Bernard Lonergan đã ám chỉ điều đó khi ông nói về khát vọng của tâm trí cuối cùng muốn biết “mọi thứ về mọi thứ”. Một lần nữa, đây không phải là vấn đề nắm bắt rõ ràng và tuyệt đối mọi sự hiện hữu cụ thể, mà là sự hiểu biết trực giác về điều gì làm cho bất cứ điều gì hiện hữu như vậy.
Để đạt được bình diện ý thức này, Pieper khẳng định, cần phải có một sự chuyển đổi nào đó. Ngay từ đầu truyền thống triết học, Pla-tông đã mô tả sự chuyển đổi này như là sự thoát khỏi hang động, nếu chúng ta coi những bóng mờ lập lòe trên vách hang động là đối tượng của trí thức thực tiễn, quy ước và hình thức về điều thiện là cái cuối cùng ban hiện hữu cho vạn vật. Pieper mô tả sự chuyển đổi không phải theo nghĩa trốn tránh mà là đột phá từ bên ngoài: “[Triết học] có nghĩa là trải nghiệm thực tế rằng môi trường xung quanh trực tiếp của chúng ta, được quy định bởi mục đích và nhu cầu của cuộc sống, không chỉ có thể mà còn phải bị phá vỡ bởi tiếng gọi xáo trộn của ‘thế giới’, của toàn bộ thế giới và những hình ảnh vĩnh cửu và thiết yếu của vạn vật được phản chiếu bởi thực tại.” Thật tuyệt vời khi ít nhất là sự ám chỉ ngầm đến khái niệm Durchbruch [đột phá] của Meister Eckhart và điều mà triết gia Tin Lành Paul Tillich gọi là “sự rung chuyển và quay về với cái vô điều kiện”.
Việc đặt ra câu hỏi triết học không liên quan đến việc quay lưng lại với thế giới kinh nghiệm thông thường, mà đúng hơn là sự thức tỉnh của sự kinh ngạc đích thực đối với nó. Vì triết học tìm cách hiểu hữu thể của sự vật, cốt lõi và ý nghĩa tối thượng của chúng, nên câu hỏi triết học, theo Pieper, là “hành động ‘ngạc nhiên’”. Đó là lý do tại sao Thánh Tôma Aquinô có thể nói rằng nhà thơ và nhà triết học có mối liên hệ với nhau ở chỗ cả hai “đều quan tâm đến sự kinh ngạc”, và tại sao nhà thơ vĩ đại nhất nước Đức có thể nói “zum Erstaunen bin ich da” (Tôi ở đó để kinh ngạc). James Joyce đã chứng kiến sự đột phá của cái vô điều kiện trong tác phẩm nổi tiếng của ông về cuộc gặp gỡ của Stephen Dedalus với người phụ nữ xinh đẹp trên bãi biển Dublin. Sau khi chiêm ngưỡng vẻ đẹp của cô và mô tả chi tiết các đường nét, chàng trai trẻ thở dài, “Chúa Trời ơi”, và trong khoảnh khắc đó, anh tìm thấy thiên hướng của mình là một nghệ sĩ, mà anh hiểu là người tường thuật lại những khoảnh khắc giác ngộ. Stephen Dedalus không trốn tránh thế giới để tìm kiếm sự kinh ngạc; thay vào đó, anh nhìn thấu chiều sâu của cô gái bình thường đứng trước mặt anh giữa những con sóng.
Pieper, hết lần này đến lần khác, khẳng định rằng cái nhìn chiêm niệm đúng đắn này chỉ có thể đạt được khi tâm trí trở nên hoàn toàn tiếp nhận trước sự hiện diện của cái có thực, khi chủ thể rút lui ý chí và lợi ích cá nhân của mình và cho phép hữu thể của sự vật tự biểu lộ. Trong cuốn tiểu thuyết ngắn xuất sắc "Con Gấu" của William Faulkner, một chàng trai trẻ đang học cách săn bắn tìm kiếm sự giao hòa với con vật hung dữ và quyến rũ đã ám ảnh trí tưởng tượng của anh ta trong nhiều năm. Mặc dù anh ta đã được huấn luyện sử dụng la bàn và súng trường trong những chuyến thám hiểm vào rừng, cậu bé được cho biết rằng, nếu muốn nhìn thấy gấu, cậu phải bỏ những vật dụng đó và đầu hàng trước ý chí và quyền năng của con vật. Faulkner sử dụng ngôn ngữ của truyền thống huyền nhiệm khi miêu tả khoảnh khắc con gấu hiện hình trước cậu bé như một sức mạnh vừa đáng sợ vừa quyến rũ, rồi lại chìm vào bóng tối của khu rừng. Một lần nữa, cái bình thường lại bộc lộ chiều sâu của nó khi chủ thể hung hăng đầu hàng và mang một thái độ chiêm niệm khiêm nhường. Goethe đã đối lập phương pháp khoa học của mình với phương pháp của Newton, coi phương pháp của Newton là hung hăng còn phương pháp của mình là tôn trọng đối với những gì nó tìm kiếm để biết, không hướng đến tính thực tiễn mà hướng đến sự kinh ngạc. Tương tự, Jacques Maritain cho rằng trực giác về hữu thể là điều kiện tiên quyết cho bất cứ tư tưởng triết học thực sự nào. Trong trường hợp của ông, bước đột phá xảy ra khi ông nhìn vào một vườn cây ăn quả bình thường và "những cái cây thì thầm về hiện hữu".
Pieper làm rõ luận điểm này thông qua sự tương phản gợi mở với các loài động vật không phải con người. Trong nhiều trường hợp, nhận thức của động vật dường như chỉ giới hạn trong phạm vi nhu cầu sinh học. Ví dụ, một số loài chim dường như không thể nhận biết một con côn trùng bất động. Những sinh vật này không sống trong thế giới như vốn có mà trong một môi trường được cấu thành một cách chọn lọc, được định nghĩa bởi chức năng và nhu cầu.
Ngược lại, con người không bị giới hạn như vậy. Chúng ta là capax universi, có khả năng chú ý đến toàn bộ thực tại. Một đặc điểm xác định của nhân loại chúng ta là niềm vui thích của chúng ta đối với những gì không mang lại lợi ích hay tiện ích nào. Chúng ta nán lại trước những gì không thể sử dụng, kinh ngạc trước những gì chống lại sự giải thích, và thấy mình bị cuốn hút vào sự chiêm niệm bởi sự hiện hữu thuần túy của những gì đang hiện hữu. Trước một thế giới rộng lớn, tươi đẹp và khả niệm, chúng ta tự hỏi.
Chống lại Marx, Pieper khẳng định rằng về bản chất chúng ta không phải là công nhân. Chống lại Nietzsche, ông bác bỏ việc giản lược cuộc sống con người thành quyền lực tự khẳng định. Chống lại Sartre và Foucault, ông khẳng định rằng bản chất con người không phải là sản phẩm của sự tự tạo triệt để cũng không chỉ đơn thuần là kết quả của sự định hình xã hội. Bản chất này hiện hữu trong cuộc sống thường nhật của con người: trong trò chơi tưởng tượng của trẻ em, trong thi ca và âm nhạc, trong triết học và thờ phượng, trong sự đắm chìm tĩnh lặng khi đọc sách, và trong sự chú tâm chiêm niệm được khơi gợi bởi cái đẹp. Nó hiện hữu ở bất cứ nơi nào sự kỳ diệu xuất hiện.
Đối với Pieper, sự kỳ diệu không phải là một cảm xúc được trau dồi hay đặc quyền của tầng lớp thượng lưu. Đó là phản ứng tự phát của tinh thần con người trước sự hiện hữu của thực tại. Con người thấy mình bị thu hút bởi những gì đang hiện hữu, vượt lên trên lợi ích cá nhân, và được mời gọi vào sự hiện diện chăm chú. Do đó, sự kỳ diệu không phải là một vật trang trí cho đời sống trí thức mà là sự khởi đầu tự nhiên của nó—và là một trong những sự viên mãn cao nhất của nó.
Đối lập với những quan điểm nhân học đơn giản hóa và hoài nghi đang thống trị phần lớn nền văn hóa học thuật hiện nay, Pieper đứng vững như một hình mẫu của chủ nghĩa nhân bản Kitô giáo và chính xác là loại chủ nghĩa nhân bản mà trường đại học đang cần nhất hiện nay. Tầm nhìn của ông dựa trên sự khẳng định tự tin và sâu sắc theo tinh thần Kitô giáo về con người trong cơ bản là tốt đẹp, có khả năng tìm thấy chân lý, và cảm thấy thoải mái trong một thế giới mời gọi sự hiểu biết, tôn kính và niềm vui. Nó nhắc nhở trường đại học về lại nền nhân học hào phóng mà từ đó nó xuất hiện lần đầu tiên.
Việc đổi mới trường đại học không thể chỉ được thực hiện bằng sự phủ định. Một lập trường phản động đơn thuần, một sự bảo vệ truyền thống theo kiểu “chống lại trào lưu thức tỉnh”, có nguy cơ đánh mất chính nền tảng mà nó đang tìm cách khôi phục. Nếu trường đại học chỉ được biện minh như một công cụ trong cuộc đấu tranh văn hóa, nó vẫn bị mắc kẹt trong cùng một luận lý học thực dụng đã làm xói mòn sâu xa nền tảng của nó. Nhiệm vụ trước mắt chúng ta không phải là phản động, mà là phục hồi: khôi phục và tôn vinh một nhân học chiêm niệm bắt nguồn từ niềm tin về bản chất thực sự của con người.
Trong nhiệm vụ này, sự rõ ràng và khéo léo có thể có giá trị hơn là tranh luận gay gắt. Như John Henry Newman đã nhận xét, “Chúng ta không cần tranh luận, chúng ta không cần chứng minh—chúng ta chỉ cần định nghĩa.” “Một nửa số tranh cãi trên thế giới là tranh cãi bằng lời nói” mà có thể được giải quyết nếu chúng ta chỉ cần làm rõ các điều khoản và vấn đề của cuộc tranh luận. Điều tương tự cũng đúng trong cuộc khủng hoảng hiện nay: Có lẽ chỉ cần đưa ra một hình dung về con người như một thực thể hướng đến chân lý và có khả năng cảm nhận sự kỳ diệu, và đặt hình dung này đối lập với nền nhân học đang thịnh hành trong phần lớn nền văn hóa học thuật đương thời. Chính sự đối lập này cho thấy cái giá phải trả của sự nghi ngờ và lòng căm ghét con người thầm lặng ẩn sâu bên trong nó.
Sinh viên đại học ngày nay cần được nghe thấy sự tự tin này. Khi sinh viên được dạy rằng khát vọng tìm kiếm chân lý của họ là ngây thơ, sự thu hút của họ đối với cái đẹp là mang tính ý thức hệ, hoặc trực giác đạo đức của họ chỉ là vỏ bọc cho ý chí quyền lực, họ không được giải phóng mà bị suy giảm. Họ học cách tiếp cận ý nghĩa với thái độ hoài nghi và nhầm lẫn sự tôn kính với sự yếu đuối. Kết quả không phải là sự khai sáng mà là sự xa lánh—một nỗi tuyệt vọng thầm lặng được ngụy trang dưới vỏ bọc tinh tế.
Con người không thể phát triển mạnh mẽ dưới một quan niệm về bản chất của họ mà phủ nhận những khát vọng cao nhất của họ. Nỗi lo lắng và sự mâu thuẫn hiện đang bao trùm trải nghiệm của sinh viên đại học không chỉ đơn thuần là sản phẩm phụ của những áp lực đương thời; chúng là những triệu chứng tinh thần của một nền giáo dục gieo rắc sự nghi ngờ vào chính sự chân thành của khát vọng hiểu biết của con người. Việc cho rằng khát vọng hiểu biết của sinh viên là ảo tưởng đồng nghĩa với việc làm họ xa rời chính nhân tính của họ.
Ở đây, chủ nghĩa nhân bản của Pieper tỏ ra vô cùng phù hợp. Nó khẳng định rằng sự kinh ngạc là có thật và về bản chất là thuộc về con người. Trong bối cảnh này, giáo dục không phải là sự khẳng định ý chí, sự vạch trần quyền lực, hay sự tạo ra bản sắc, mà là việc vun đắp một sự chú tâm tiếp nhận toàn bộ hữu thể. Pieper không bác bỏ hoàn toàn nhân học về sự nghi ngờ mà làm cho nó trở nên thừa thãi bằng cách nhắc nhở chúng ta về sự thật của việc làm người.
Nếu muốn khôi phục lại viễn kiến này, trường đại học một lần nữa phải được tổ chức xoay quanh sự chiêm niệm. Chương trình giảng dạy phải mời gọi sinh viên tham gia một cách bền vững vào những câu hỏi cơ bản về chân lý, điều thiện, cái đẹp và ý nghĩa của cuộc sống con người. Những không gian thư giãn đích thực phải được bảo vệ khỏi sự áp đặt của tính hữu dụng. Phương pháp sư phạm phải đề cao sự chú tâm cũng như thành tích, lắng nghe cũng như khẳng định. Thần học và siêu hình học phải được khôi phục vị trí xứng đáng trong toàn bộ quá trình học tập, bởi nếu thiếu chúng, trường đại học sẽ mất niềm tin vào tính khả niệm của sứ mệnh mình.
Trên hết, trường đại học phải khôi phục khả năng nói chuyện với sinh viên bằng ngôn ngữ của hy vọng. Mục đích của ngôn ngữ đó không phải là để né tránh thực tại của đau khổ hay bất công, mà là để từ chối phương pháp sư phạm của sự tuyệt vọng. Một nền giáo dục nhân bản đích thực khẳng định rằng chân lý không chỉ là một cấu trúc đơn thuần, rằng cái đẹp không thể bị giản lược thành tình cảm tư riêng hay sự tự phát biểu, và rằng lòng tốt không chỉ đơn thuần là một chức năng của quyền lực hay sự đồng thuận. Nó đảm bảo với sinh viên rằng khát vọng hiểu biết của họ là có thật và chính đáng, và việc coi trọng khát vọng này không phải là ngây thơ mà là khởi đầu của sự khôn ngoan.
Liệu Vatican có thực sự trao một giải thưởng đặc biệt cho đại sứ Iran?
Vũ Văn An
15:02 15/05/2026
Giải thưởng đó là gì? Và nó nói lên điều gì về lập trường của Đức Giáo Hoàng đối với các vấn đề chính trị?
EDGAR BELTRÁN, trong bản tin 14 THÁNG 5 NĂM 2026 của tạp chí The Pillar, cho biết: Văn phòng báo chí Vatican đã làm rõ rằng giải thưởng được trao cho đại sứ Iran tại Tòa Thánh không phải là một vinh dự độc nhất vô nhị, mà là một giải thưởng thông thường được trao cho các đại sứ sau hai năm phục vụ.
Lời giải thích được đưa ra sau khi một số phương tiện truyền thông Iran đưa tin vào ngày 12 tháng 5 rằng Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã trao tặng vinh dự ngoại giao cao nhất của Vatican cho đại sứ Iran, gây ra những lời chỉ trích trên mạng xã hội đối với Đức Giáo Hoàng.
Giải thưởng mà đại sứ Iran nhận được là gì? Nó xếp hạng như thế nào trong số các vinh dự ngoại giao của Vatican? Nó có nói lên điều gì về lập trường của Đức Giáo Hoàng đối với các vấn đề chính trị?
The Pillar giải thích như sau:

Truyện gì xẩy ra?
Ngày 12 tháng 5, Mohammad Hossein Mokhtari, Đại sứ Iran tại Tòa Thánh, đã nhận được Huân chương Đại Thập tự Giáo hoàng piô IX cùng với 12 đại sứ khác được bổ nhiệm tại Tòa Thánh.
Truyền thông Iran mô tả huân chương này là “một trong những huân chương hiệp sĩ cao quý nhất của Vatican”, và “thường được trao cho các đại sứ và nhân vật nổi bật, những người đã đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường quan hệ ngoại giao và phục vụ sự nghiệp hòa bình và đối thoại”.
Một số bài đăng trên mạng xã hội cho rằng Đức Giáo Hoàng đã đích thân trao tặng huân chương cho đại sứ Iran, trong khi một tờ báo Iran khác cho biết rằng “giải thưởng và việc Giáo hoàng lên án hành động gây hấn có liên quan chặt chẽ đến những nỗ lực đang diễn ra của Đại sứ quán Iran tại Vatican nhằm thúc đẩy các thông điệp về hòa bình, công lý và phản đối chiến tranh”.
Vậy Vatican có phải đã trao tặng một vinh dự đặc biệt cho đại sứ Iran?
Ngay sau khi các bài đăng trên truyền thông Iran thu hút sự chú ý, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Tòa Thánh đã phản bác lại thông tin mà họ đưa ra. Đại sứ quán Hoa Kỳ đã đăng trên twitter.com rằng Đức Giáo Hoàng không “ban tặng một vinh dự đặc biệt riêng cho Đại sứ Iran tại Tòa Thánh. Huân chương này được trao cho tất cả các đại sứ được bổ nhiệm tại Tòa Thánh sau hơn 2 năm phục vụ và đã là thông lệ trong nhiều năm.”
Trong một tuyên bố với tờ The Pillar, văn phòng báo chí Vatican xác nhận rằng giải thưởng “là một vinh dự được trao cho các đại sứ sau hai năm phục vụ tại Tòa Thánh.”
“Hôm qua, Phó Phủ Quốc vụ khanh [Sostituto] đã trao tặng giải thưởng này cho 13 đại sứ, bao gồm cả đại sứ Iran,” tuyên bố của văn phòng báo chí tiếp tục.
Các giải thưởng được trao bởi Chánh văn phòng Giáo hoàng, Tổng Giám mục Paolo Rudelli, và giấy chứng nhận vinh dự được ký bởi Hồng Y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh.
Huân chương của Giáo hoàng Piô IX là gì?
Huân chương này, còn được gọi là Huân chương Piô, là một huân chương hiệp sĩ của Giáo hoàng, ban đầu được thành lập bởi Giáo hoàng Piô IV vào năm 1560.
Nó bị bỏ quên nhiều năm sau đó, nhưng đã được phục hồi bởi Chân phước Piô IX vào năm 1847.
Bản thân huân chương có một số cấp bậc:
• Hiệp sĩ/Nữ hiệp sĩ đeo vòng cổ: Dành riêng cho các nguyên thủ quốc gia.
• Hiệp sĩ/Nữ hiệp sĩ Đại Thập tự: Thường được trao cho các đại sứ được bổ nhiệm tại Tòa Thánh hoặc những giáo dân xuất sắc vì những đóng góp đặc biệt.
• Hiệp sĩ/Nữ hiệp sĩ Chỉ huy với Ngôi sao: Được trao tặng vì công trạng phi thường trong ngoại giao hoặc phục vụ giáo hội.
• Hiệp sĩ/Nữ hiệp sĩ Chỉ huy: Được trao tặng vì những đóng góp đáng kể cho Giáo hội và xã hội.
• Hiệp sĩ/Nữ hiệp sĩ: Hiếm khi được trao tặng và dành riêng cho các tín hữu Công Giáo thuộc các gia đình quý tộc lâu đời ở châu Âu.
Vua Juan Carlos I của Tây Ban Nha, Vua Albert II của Bỉ và Vua Carl XVI Gustaf của Thụy Điển đều đã nhận được vòng cổ của huân chương này. Vua Charles III của Anh trở thành nguyên thủ quốc gia gần đây nhất nhận được vinh dự này trong chuyến thăm Giáo hoàng gần đây nhất của ông.
Các thành viên ban đầu của Huân chương Giáo hoàng Piô IX là thành viên của triều đình giáo dân của Giáo hoàng. Họ phục vụ với tư cách là người hộ tống, cư trú tại Cung điện Tông đồ và cùng ngài thực hiện các công việc hàng ngày.
Mỗi cấp bậc của huân chương đều có một số yếu tố huy hiệu độc đáo:
• Hiệp sĩ/Nữ hiệp sĩ đeo vòng cổ: Huy hiệu bao gồm một dây chuyền vàng được trang trí bằng các biểu tượng của Giáo hoàng, chẳng hạn như vương miện Giáo hoàng, chìa khóa của Thánh Phêrô và hai con chim bồ câu.
• Hiệp sĩ/Nữ hiệp sĩ Đại Thập tự: Họ đeo một dải lụa màu xanh đậm rộng với viền đỏ từ vai trái đến hông phải và một ngôi sao bạc lớn ở bên trái ngực, cùng với huy chương của huân chương.
• Chỉ huy: Huy hiệu bao gồm một ngôi sao nhỏ ở bên trái ngực, và các chỉ huy đeo một huy hiệu có dải ruy băng quanh cổ.
• Hiệp sĩ/Nữ hiệp sĩ: Họ đeo một huy hiệu nhỏ không có ngôi sao ở bên trái ngực.
Đây có phải là danh hiệu ngoại giao cao quý nhất của Vatican không?
Có và không.
Về mặt kỹ thuật, Huân chương Chúa Kitô Tối cao và Huân chương Gai Vàng được coi là có thứ bậc cao hơn, nhưng cả hai đều không còn hoạt động.
Người cuối cùng nhận được Huân chương Chúa Kitô Tối cao là Cha Angelo de Mojana, vị hoàng tử thứ 77 và đại thủ lĩnh của Dòng Hiệp sĩ Malta. Thành viên còn sống cuối cùng của dòng này là Vua Baudouin của Bỉ, người đã qua đời năm 1993.
Thành viên cuối cùng còn sống của Huân chương Kim Cương là Đại Công tước Jean của Luxembourg, người đã qua đời năm 2019.
Huân chương Giáo hoàng Piô IX là vinh dự ngoại giao cao nhất mà Tòa Thánh đã trao tặng cho các nhà ngoại giao hoặc nguyên thủ quốc gia trong gần 40 năm qua.
Việc nhận được Huân chương Giáo hoàng Piô IX có biến một người thành quý tộc không?
Không còn nữa.
Khi Giáo hoàng Piô IX tái lập huân chương này, các hiệp sĩ nhận được đặc quyền quý tộc cá nhân thông qua tư cách thành viên của họ. Vào thời điểm đó, đó là cách duy nhất để trở thành quý tộc ở Lãnh thổ Giáo hoàng.
Tuy nhiên, Giáo hoàng Piô XII đã bãi bỏ đặc quyền quý tộc vào tháng 11 năm 1939. Trước khi bãi bỏ, những người nhận được quyền sử dụng tít hiệu “Nobile di S.S.” (Quý tộc của Tòa Thánh).
Việc được công nhận là quý tộc cũng mang lại cho họ quyền ưu tiên trong một số nghi lễ của Vatican, sự công nhận quý tộc trong các chế độ quân chủ châu Âu khác và việc được tham gia vào triều đình giáo hoàng.
VietCatholic TV
Che nỗi nhục diễn binh: Nga khoe hỏa tiễn Satan 2, đánh tàn bạo, Kyiv phản công, chiến cuộc bùng nổ
VietCatholic Media
03:15 15/05/2026
1. Cuộc gặp với Tổng thống Trump đang mang lại cho ông Tập Cận Bình điều mà ông hằng mong muốn: Trung Quốc được thể hiện ngang hàng với Mỹ.
Màn chào đón long trọng được dàn dựng tỉ mỉ dành cho Ông Donald Trump tại Bắc Kinh hôm nay được tính toán kỹ lưỡng để chào đón một vị tổng thống Mỹ nổi tiếng thích thú với những màn trình diễn hoành tráng.
Nhưng đối với Bắc Kinh, hình ảnh này còn có một lợi ích khác: thể hiện Trung Quốc như một cường quốc ngang hàng với Mỹ.
Trung Quốc từ lâu đã bác bỏ tham vọng trở thành siêu cường. Nhưng rõ ràng việc được coi là một cường quốc lớn trên trường quốc tế – và được Mỹ đối xử bình đẳng – là những mục tiêu của nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình.
Còn cách nào tốt hơn để làm rõ quan điểm này ngoài việc một tổng thống Mỹ đến Bắc Kinh cùng với một đoàn tùy tùng gồm 12 Giám đốc từ những công ty quyền lực nhất nước Mỹ – nhiều trong số đó cũng phụ thuộc vào Trung Quốc cho sự thành công hiện tại và tương lai của họ.
Đó là những hình ảnh đã diễn ra hôm Thứ Năm, 14 Tháng Năm, khi ông Tập Cận Bình đón tiếp Tổng thống Trump trên thảm đỏ trước Đại lễ đường Nhân dân trong một buổi lễ chào đón, trong khi một hàng các nhà tài phiệt, bao gồm Elon Musk của Tesla và Tim Cook của Apple, đứng nhìn từ bậc thang của tòa nhà đồ sộ này.
Vài phút sau, ngồi đối diện với ông Tập Cận Bình tại một chiếc bàn dài bên trong, Tổng thống Trump nhấn mạnh hình ảnh đó, nói với nhà lãnh đạo Trung Quốc rằng nhóm của ông đến đó “để bày tỏ lòng kính trọng đối với ông và Trung Quốc”. Ông cũng ca ngợi ông Tập là một “nhà lãnh đạo vĩ đại”.
Và khi hai nhà lãnh đạo nâng ly chúc mừng nhau tại bữa tiệc chiêu đãi kết thúc một ngày làm việc, ông Tập Cận Bình nói rằng cả hai nhà lãnh đạo đều cho rằng quan hệ Mỹ-Trung là “mối quan hệ song phương quan trọng nhất trên thế giới”. Tổng thống Trump cũng đồng tình, gọi đó là “một trong những mối quan hệ có tầm ảnh hưởng nhất” trong lịch sử thế giới.
Đối với ông Tập, những hình ảnh này rất có lợi cho dư luận trong nước.
Nhưng chúng cũng giúp củng cố hình ảnh mà các quan chức Trung Quốc ngày càng nỗ lực thể hiện ra nước ngoài: Trung Quốc là một cường quốc chủ chốt trên trường quốc tế – và là một nhà lãnh đạo thay thế cho một nước Mỹ đang suy yếu.
[Politico: The Trump meeting is giving Xi something he's long craved: China shown as an equal to the US]
2. Tổng thống Zelenskiy chỉ thị quân đội chuẩn bị đáp trả vụ tấn công kinh hoàng của Nga vào Kyiv.
Trong diễn từ gởi quốc dân đồng bào tối Thứ Năm, 14 Tháng Năm, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskiy tuyên bố đã chỉ thị quân đội Ukraine chuẩn bị “các phương án đáp trả khả thi” đối với vụ tấn công bằng hỏa tiễn và máy bay điều khiển từ xa của Nga vào Kyiv, khiến ít nhất 16 người thiệt mạng và ít nhất 47 người khác bị thương.
Hàng chục hỏa tiễn và hàng trăm máy bay điều khiển từ xa đã gây chấn động Kyiv suốt đêm qua, trong khi cuộc tấn công quy mô lớn mới nhất của Nga vào Ukraine đã phá hủy một phần một tòa nhà chung cư lớn. Theo Cơ quan Dịch vụ Khẩn cấp Nhà nước, trong số các nạn nhân thiệt mạng có hai trẻ em, trong đó có một em 12 tuổi. Tính đến 16h30 giờ địa phương, đã có 47 người bị thương.
Tại một khu dân cư ở bờ đông thành phố, lực lượng cấp cứu đang tiếp tục công tác tìm kiếm xung quanh một đống đổ nát lớn, nơi đã cứu được 11 người.
Theo Cơ quan Dịch vụ Khẩn cấp Tiểu bang, hiện vẫn còn 17 người mất tích.
Sau vụ tấn công, Ngoại trưởng Andrii Sybiha cho biết ông đã chỉ thị triệu tập một cuộc họp của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc “để đáp trả việc Nga giết hại thường dân Ukraine và tấn công các nhân viên nhân đạo”.
“Quy mô khủng bố của Nga như vậy đòi hỏi những phản ứng mạnh mẽ từ cộng đồng quốc tế, và tôi yêu cầu tất cả các quốc gia hãy phản ứng”, Sybiha nói trong một bài đăng trên X.
Theo Không quân Ukraine, trong cuộc tấn công đêm qua, 56 hỏa tiễn các loại, bao gồm hỏa tiễn đạn đạo Iskander và hỏa tiễn khí động học Kinzhal, đã được phóng, cùng với 675 máy bay điều khiển từ xa tấn công một chiều.
Hai mươi chín hỏa tiễn hành trình Kh-101, 12 hỏa tiễn Iskander hoặc S-400, và 652 máy bay điều khiển từ xa đã bị bắn hạ hoặc gây nhiễu trước khi tiếp cận mục tiêu.
Tổng thống Volodymyr Zelenskiy cho biết, trích dẫn một báo cáo sơ bộ, rằng hỏa tiễn Kh-101 bắn trúng một tòa nhà ở Kyiv là một hỏa tiễn được sản xuất trong quý 2 năm nay, đồng thời nhấn mạnh rằng Nga vẫn có khả năng nhập khẩu các phụ tùng, nguồn lực và thiết bị cần thiết cho việc sản xuất hỏa tiễn bất chấp các lệnh trừng phạt.
“ Chúng tôi đang chuẩn bị các bước có thể tăng cường phản ứng chung của chúng ta: các biện pháp trừng phạt phải gây tổn thất nặng nề hơn cho Nga”, Tổng thống Zelenskiy nói trên điện tín, kêu gọi các đồng minh phương Tây thực hiện các biện pháp để ngăn Mạc Tư Khoa né tránh các lệnh trừng phạt.
Trong một bài đăng trên mạng xã hội sau đó cùng ngày, Tổng thống Zelenskiy đã chỉ ra cả thành công ngày càng tăng của Ukraine trong việc đánh chặn các máy bay điều khiển từ xa kiểu Shahed và tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng hỏa tiễn cho hệ thống phòng không chống hỏa tiễn đạn đạo.
Theo Tổng thống Zelenskiy, trong số 1.567 máy bay điều khiển từ xa và 56 hỏa tiễn được phóng vào Ukraine trong hai ngày 13 và 14 tháng 5, tỷ lệ đánh chặn đạt 94% đối với máy bay điều khiển từ xa nhưng chỉ 7% đối với hỏa tiễn.
Ông nói: “Đây là một chiến thuật khủng bố có chủ đích của người Nga, họ đã tích lũy máy bay điều khiển từ xa và hỏa tiễn trong một thời gian dài và cố tình tính toán cuộc tấn công sao cho quy mô lớn, tạo ra khó khăn tối đa cho hệ thống phòng không của chúng ta.”
“Tôi đã chỉ thị cho Lực lượng Quốc phòng Ukraine và các cơ quan tình báo đề xuất các phương án đáp trả khả thi đối với cuộc tấn công của Nga”, tổng thống nói thêm, có thể ám chỉ đến kho vũ khí tấn công tầm xa ngày càng mạnh mẽ của Ukraine.
Mạc Tư Khoa cũng sử dụng ngôn ngữ trả đũa, bất chấp việc chính họ là kẻ gây hấn trong cuộc chiến và thường xuyên tấn công các thành phố của Ukraine ngay từ đầu.
“Quân đội Nga, để đáp trả các cuộc tấn công khủng bố của Ukraine nhằm vào các mục tiêu dân sự trên lãnh thổ Liên bang Nga, đã tiến hành một cuộc tấn công trả đũa quy mô lớn”, Bộ Quốc phòng nước này cho biết.
Cuộc tấn công bắt đầu ngay trước 1 giờ sáng, một cảnh báo trên không toàn quốc đã được ban hành, cảnh báo rằng Nga đã phóng các máy bay mang hỏa tiễn MiG-31 và mọi khu vực trong nước hiện đều có nguy cơ bị tấn công bằng hỏa tiễn đạn đạo.
Sau đó, Tkachenko cảnh báo rằng nhiều máy bay điều khiển từ xa của Nga đang hướng về thủ đô và các cuộc tấn công bằng hỏa tiễn cũng là một mối đe dọa tiềm tàng.
Những tiếng nổ đầu tiên được nghe thấy ở Kyiv vào khoảng 3 giờ sáng giờ địa phương khi hệ thống phòng không bắt đầu tấn công các máy bay điều khiển từ xa của Nga, trước khi những hỏa tiễn đạn đạo đầu tiên bắt đầu bay tới vài phút sau đó.
Theo báo cáo sơ bộ, ông Klitschko cho biết tại quận Darnytskyi, các bộ phận cấu trúc của một tòa nhà dân cư đã bị sập và nhiều người bị mắc kẹt bên dưới.
Cơ sở hạ tầng năng lượng ở thủ đô cũng là mục tiêu của cuộc tấn công, với việc DTEK, công ty năng lượng tư nhân lớn nhất Ukraine, báo cáo một trạm biến áp và đường dây điện cao thế bị hư hại.
“Mười tám căn nhà đã bị phá hủy. Chiến dịch cấp cứu và tìm kiếm đang được tiến hành. Theo thông tin ban đầu, 11 người đã được cứu sống khỏi tòa nhà”, Thị trưởng Kyiv Klitschko cho biết.
Theo báo cáo của Klitschko, sau vụ tấn công của Nga, nguồn nước sinh hoạt đã bị gián đoạn ở khu vực phía đông (bờ trái) của Kyiv.
Mảnh vỡ máy bay điều khiển từ xa rơi xuống cũng gây ra hỏa hoạn trên mái nhà của một tòa nhà chung cư năm tầng ở quận Dniprovskyi, và mảnh vỡ rơi xuống một con đường ở quận Holosiivskyi, Thị trưởng Kyiv Vitali Klitschko cho biết.
Ông Klitschko cho biết Kyiv đã tuyên bố ngày 15 tháng 5 là ngày quốc tang.
Cuộc tấn công hỏa tiễn quy mô lớn diễn ra sau một ngày Nga liên tục thực hiện các cuộc không kích trên không khắp cả nước.
Chiều ngày 13 tháng 5, lực lượng Nga đã tiến hành một cuộc tấn công phối hợp kéo dài nhằm vào cơ sở hạ tầng trọng yếu và dân sự của Ukraine, phóng ít nhất 800 máy bay điều khiển từ xa theo nhiều đợt. Cuộc tấn công nhắm vào các thành phố trên khắp Ukraine, bao gồm cả các vùng phía tây xa xôi hiếm khi bị tấn công trực tiếp.
Các vụ tấn công ban ngày đã khiến ít nhất 14 người thiệt mạng và hơn 80 người khác bị thương, trong đó có cả trẻ em và thanh thiếu niên. Lực lượng cấp cứu cũng bị thương trong các vụ tấn công “bắn hai phát liên tiếp”.
Tổng thống Volodymyr Zelenskiy cảnh báo rằng Nga có thể tiếp nối các đợt tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa bằng hỏa tiễn để áp đảo hệ thống phòng không của Ukraine và gây ra “càng nhiều đau thương và thiệt hại càng tốt”.
Cảnh báo này dựa trên thông tin từ cơ quan tình báo quân sự Ukraine, HUR, cho biết lực lượng Nga đang lên kế hoạch tiếp tục cuộc tấn công với một số lượng đáng kể hỏa tiễn hành trình phóng từ trên không và trên biển, cũng như hỏa tiễn đạn đạo.
Theo cơ quan này, các mục tiêu của Điện Cẩm Linh có thể bao gồm cơ sở hạ tầng trọng yếu và các dịch vụ thiết yếu tại các thành phố lớn, bao gồm các cơ sở năng lượng, doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng và các tòa nhà chính phủ.
[Kyiv Independent: Zelensky instructs military to prepare response to Russia's deadly Kyiv attack]
3. Một cựu tù nhân của Đức Quốc xã, nay đã 100 tuổi, kể lại việc ông bị buộc phải đào hầm trú ẩn cho Adolf Hitler.
Ches Black bị đưa bằng xe tải đến Đức vào năm 1944 như một phần của chiến dịch lao động cưỡng bức mang tên Tổ chức Todt.
Ở tuổi 19, ông được Văn phòng Thủ tướng Đức tại Berlin phái đi cùng hàng trăm công nhân, binh lính Đức và những người khác để đào một cái hố sâu bằng tay.
Mãi đến khi chiến tranh kết thúc, ông mới biết đó là địa điểm hầm trú ẩn của Hitler, nơi ông ta tự sát vào năm 1945 cùng với người vợ mới cưới Eva Braun khi quân Đồng minh tiến sát.
Ches, đến từ Stoke Row, Oxon, cho biết: “Chúng tôi không hề biết nó dùng để làm gì.”
“Chúng tôi chỉ đang đào một cái hố và không hề biết rằng mình đang bảo vệ Hitler.”
“Chỉ sau chiến tranh chúng tôi mới biết.”
Ches nói: “Chúng tôi bị cưỡng bức lao động.”
“Khu vực đó toàn cát, chúng tôi chỉ có xe cút kít và xẻng nên làm việc bằng tay.”
Sau đó, Ches được điều động đến Ý, nơi anh làm nhiệm vụ vận chuyển gỗ.
Anh đã trốn thoát khỏi quân Đức Quốc xã và gia nhập lực lượng kháng chiến Ba Lan cho đến khi chiến tranh kết thúc.
Do không thể trở về Ba Lan dưới sự cai trị của Liên Xô sau năm 1945, anh đã làm việc 29 năm tại một nhà máy sản xuất xe hơi ở Cowley, Oxford.
Ông kết hôn với bà June được 72 năm và có bốn người con.
Ches đang hồi tưởng lại những trải nghiệm của mình như một phần của dự án lịch sử, và để giữ gìn ký ức và di sản của những binh lính và người tị nạn Ba Lan được đưa đến các trại tái định cư ở Oxfordshire sau chiến tranh.
[The Sun: A FORMER Nazi captive aged 100 has told how he was forced to dig Adolf Hitler’s bunker.]
4. Vance nói rằng Tổng thống Trump quan tâm đến tình hình tài chính của người dân Mỹ, đồng thời thừa nhận tỷ lệ lạm phát “không khả quan”.
Phó Tổng thống JD Vance hôm thứ Tư đã tìm cách chữa cháy một tuyên bố của Tổng thống Trump rằng tình hình tài chính của người Mỹ không phải là động lực để đàm phán với Iran.
Hôm thứ Ba, khi được một phóng viên hỏi rằng tình hình tài chính của người dân Mỹ có “thúc đẩy ông đạt được thỏa thuận” hay không, Tổng thống Trump trả lời: “Hoàn toàn không.”
“Tôi không nghĩ về tình hình tài chính của người Mỹ, tôi không nghĩ về bất cứ ai. Tôi chỉ nghĩ về một điều duy nhất — chúng ta không thể để Iran sở hữu vũ khí hạt nhân, thế thôi”, tổng thống nói thêm.
Tại một cuộc họp báo về việc kiểm soát gian lận trong chương trình Medicare và Medicaid hôm thứ Tư, Vance cho biết việc tường trình rằng Tổng thống Trump đang nói rằng tình hình tài chính của người Mỹ không nên được xem xét trong quá trình ra quyết định liên quan đến Iran là một sự xuyên tạc.
“Mục tiêu ngăn chặn phổ biến vũ khí hạt nhân có lẽ là điều quan trọng nhất mà chúng ta có thể làm để bảo vệ người dân của mình về lâu dài. Đó hoàn toàn là một mục tiêu đáng giá”, Vance nói với các phóng viên. “Nhưng tất nhiên, tổng thống, tôi và toàn bộ nhóm của mình đều quan tâm đến tình hình tài chính của người dân Mỹ.”
Phó tổng thống thừa nhận số liệu lạm phát mới nhất “không khả quan” và đổ lỗi cho chính quyền Tổng thống Biden về vấn đề này.
Lạm phát đã tăng tốc trong tháng 4 lên mức 3,8% hàng năm, cao nhất kể từ tháng 5 năm 2023, với giá năng lượng tăng do chiến tranh Iran là nguyên nhân chính - chiếm 40% tổng mức tăng của Chỉ số Giá tiêu dùng, theo Bộ Lao động.
[CBSNews: Vance says Trump cares about Americans' financial situations, admits inflation numbers are “not great”]
5. Tổng thống Trump ca ngợi “một trong những mối quan hệ quan trọng nhất trong lịch sử thế giới”
Tổng thống Trump đã nâng ly chúc mừng mối quan hệ thân thiết và mang tính lịch sử giữa Mỹ và Trung Quốc, thể hiện sự ổn định và nồng ấm trong mối quan hệ này sau một ngày đàm phán căng thẳng với nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình.
Trong bài phát biểu ngắn gọn tại buổi tiệc chiêu đãi quốc khách hôm thứ Năm, Tổng thống Trump gọi các cuộc thảo luận trong ngày là “vô cùng tích cực và hiệu quả” và cảm ơn người đồng cấp về “vinh dự lớn” khi được đón tiếp trong một buổi lễ “tuyệt vời” diễn ra trước đó trong ngày.
Tổng thống Trump đã so sánh hai quốc gia này xuyên suốt lịch sử, gọi đó là “một trong những mối quan hệ quan trọng nhất trong lịch sử thế giới”. Ông dẫn chứng việc thương nhân Mỹ Samuel Shaw giao thương với Trung Quốc cách đây 250 năm, việc Benjamin Franklin trích dẫn Khổng Tử trên tờ báo của mình, những nỗ lực của Tổng thống Theodore Roosevelt nhằm giúp thành lập trường cũ của ông Tập Cận Bình, cùng với nhiều ví dụ hiện đại khác.
“Cũng giống như hiện nay nhiều người Trung Quốc yêu thích bóng rổ và quần jean, số lượng nhà hàng Trung Quốc ở Mỹ ngày nay nhiều hơn tổng số của năm chuỗi thức ăn nhanh lớn nhất nước Mỹ cộng lại,” ông nói, gọi đó là một “tuyên bố khá lớn.”
Tổng thống Mỹ nói thêm rằng hai nước có “nhiều điểm chung”, nhấn mạnh đến các giá trị “chăm chỉ”, “can đảm” và “thành tựu”.
“Thế giới sẽ trở nên đặc biệt hơn khi có hai chúng ta đoàn kết và bên nhau,” Tổng thống Trump nói.
Tổng thống Trump cũng đưa ra ngày chính thức cho chuyến thăm Washington của ông Tập Cận Bình và phu nhân, bằng cách mời họ đến Tòa Bạch Ốc vào ngày 24 tháng 9.
[CBSNews: Trump celebrates “one of the most consequential relationships in world history”]
6. Một chuyên gia cho rằng vụ thử hỏa tiễn “Satan 2” của Nga là “để bù đắp cho sự bẽ mặt trên trường quốc tế”.
Nga được tường trình đã tiến hành thành công vụ thử hỏa tiễn đạn đạo liên lục địa RS-28 Sarmat có khả năng mang đầu đạn hạt nhân, sau một loạt các vụ phóng thất bại đã phơi bày những điểm yếu đằng sau các mối đe dọa hạt nhân lặp đi lặp lại của Mạc Tư Khoa.
Theo hãng thông tấn nhà nước Nga TASS đưa tin hôm Thứ Tư, 13 Tháng Năm, rằng thông tin về vụ phóng được tường trình đã được Tư lệnh Lực lượng Hỏa tiễn Chiến lược Sergey Karakayev chuyển đến Putin.
Theo phát ngôn viên Điện Cẩm Linh Dmitry Peskov, Mạc Tư Khoa đã cảnh báo Mỹ và “các thủ đô khác” về vụ thử nghiệm này.
Hỏa tiễn này, một trong sáu “siêu vũ khí” được Putin công bố lần đầu vào năm 2018 nhằm thể hiện sức mạnh chiến lược tiên tiến nhất của Nga, thường xuyên xuất hiện trong các cuộc phô trương sức mạnh hạt nhân của Mạc Tư Khoa.
Nhưng với một số vụ phóng thất bại được báo cáo trong cuộc chiến toàn diện chống lại Ukraine, hỏa tiễn này thay vào đó lại làm nổi bật những điểm yếu trong chương trình vũ khí hạt nhân chiến lược của Nga.
Vào tháng 9 năm 2024, nhóm tình báo nguồn mở MeNMyRC đã báo cáo về một sự việc nghiêm trọng của hỏa tiễn Sarmat khi phóng tại Sân bay vũ trụ Plesetsk ở tỉnh Arkhangelsk phía bắc nước Nga, dựa trên phân tích hình ảnh vệ tinh.
Hình ảnh vệ tinh sau đó từ Planet Labs và Maxar, được hỗ trợ bởi dữ liệu về vụ cháy FIRMS của NASA, đã cho thấy bằng chứng về một vụ nổ lớn, bao gồm một miệng hố có bán kính khoảng 70 mét gần bệ phóng.
Một vụ phóng thử thất bại khác đã được Mỹ báo cáo vào tháng 2 năm 2023, vài ngày trước chuyến thăm Kyiv của Tổng thống Joe Biden. Nga không bình luận về vụ việc này.
Sau đó, vào tháng 11 năm 2025, một video cho thấy một hỏa tiễn chệch hướng ngay sau khi phóng và rơi xuống đất được tường trình do một vụ thử hỏa tiễn Sarmat thất bại khác ở tỉnh Orenburg của Nga, thuộc vùng Ural phía nam.
Theo Putin, hỏa tiễn tầm xa Sarmat sẽ được đưa vào biên chế hoạt động vào cuối năm 2026, mặc dù trước đó nhà lãnh đạo Roscosmos, Yuri Borisov, từng nói điều này sẽ xảy ra vào năm 2023.
Hỏa tiễn này, đôi khi được gọi là “Satan II” theo tên gọi tiền thân thời Liên Xô, R-36M “Satan”, được tường trình có thể mang tới 16 đầu đạn và có tầm bắn hoạt động lên tới 18.000 km, cho phép nó tấn công các mục tiêu ở bất cứ đâu trên thế giới từ các hầm chứa ở Nga.
Bất chấp những tuyên bố của chính quyền Nga về tính độc đáo và sức mạnh hủy diệt của hỏa tiễn này, hiệu quả thực tế của nó vẫn còn chưa chắc chắn.
George Barros, một nhà phân tích tại Viện Nghiên cứu Chiến tranh, cho rằng Sarmat “không có gì thú vị, nếu xét đến bức tranh tổng thể và các nguyên tắc cơ bản của răn đe hạt nhân và hủy diệt lẫn nhau.”
“Hỏa tiễn Sarmat không gây ra mối đe dọa đặc biệt nào đối với bất kỳ bên nào, mặc dù Điện Cẩm Linh cố tình dàn dựng các cuộc thử nghiệm và thông cáo báo chí này nhằm gieo rắc nỗi sợ hãi cho đối tượng mục tiêu để thuyết phục họ đầu hàng Nga”, Barros nói với tờ Kyiv Independent.
Năm 2022, sau khi phát động cuộc xâm lược toàn diện Ukraine, Putin tuyên bố rằng lực lượng Sarmat sẽ “bảo đảm an ninh cho Nga trước các mối đe dọa từ bên ngoài và khiến những kẻ lợi dụng lời lẽ hung hăng để đe dọa đất nước chúng ta phải suy nghĩ lại.”
Trong số các “siêu vũ khí” khác của Nga, hai loại đã được sử dụng trong cuộc xâm lược Ukraine là Kinzhal, một hỏa tiễn đạn đạo phóng từ máy bay, và Zircon, một hỏa tiễn hành trình siêu thanh.
Hỏa tiễn tầm trung mới, Oreshnik, lần đầu tiên được công bố khi nó được sử dụng ở Ukraine với đầu đạn giả vào tháng 11 năm 2024, trong khi Putin cũng cho biết hỏa tiễn hành trình chạy bằng năng lượng hạt nhân Burevestnik và máy bay điều khiển từ xa dưới nước mang vũ khí hạt nhân Poseidon đang ở “giai đoạn cuối” của quá trình phát triển.
Đồng thời, những tuyên bố như vậy từ Mạc Tư Khoa có thể phần lớn chỉ là hình thức, nhằm củng cố nhận thức về một mối đe dọa đáng tin cậy đối với các quốc gia mà Điện Cẩm Linh coi là thù địch.
Ông Barros nói thêm rằng thông báo về vụ phóng hỏa tiễn Sarmat thành công được đưa ra chỉ vài ngày sau cuộc duyệt binh Ngày Chiến thắng thu nhỏ trên Quảng trường Đỏ vào ngày 9 tháng 5, chỉ kéo dài 45 phút và lần đầu tiên sau gần 20 năm không có sự tham gia của các loại vũ khí hạng nặng của Nga. Ông cũng nhấn mạnh rằng các cuộc thử nghiệm và thông cáo báo chí này diễn ra sau sự kiện bẽ mặt là Putin phải nhờ đến Mỹ đứng làm bảo kê để có thể tổ chức cuộc diễn binh ngày Chiến Thắng 9 tháng Năm của Nga.
Điện Cẩm Linh cho rằng việc rút ngắn thời gian diễn binh là do “mối đe dọa khủng bố” từ Ukraine, quốc gia đã gia tăng đáng kể số vụ tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa nhằm vào Nga trong những tháng gần đây, bao gồm cả các cuộc tấn công vào Mạc Tư Khoa.
“Ông Putin có lẽ đang tung hô thông báo này để bù đắp cho sự bẽ mặt quốc tế mà Nga phải gánh chịu vào ngày 9 tháng 5, khi Putin phải cầu xin Tổng thống Zelenskiy cho phép Nga tổ chức cuộc duyệt binh trên Quảng trường Đỏ”, ông Barros nói.
“Putin muốn thể hiện Nga như một cường quốc toàn cầu, và những tuyên bố như vậy giúp ông ấy trong nỗ lực PR hay kiểm soát dư luận quần chúng.”
[Kyiv Independent: Russia's test of 'Satan 2' missile 'to compensate for international embarrassment,' expert says]
7. Ông Tập Cận Bình cho rằng Trung Quốc và Mỹ phải nỗ lực để duy trì mối quan hệ và “không bao giờ được phá hỏng nó”.
Trong bài phát biểu khai mạc buổi tiệc chiêu đãi Tổng thống Donald Trump, nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình đã mô tả mối quan hệ Mỹ-Trung là mối quan hệ quan trọng nhất thế giới – và ông cảnh báo cả hai bên “không bao giờ được làm hỏng nó”.
“Hôm nay, Tổng thống Trump và tôi đã có cuộc trao đổi sâu rộng về quan hệ Trung Quốc-Mỹ cũng như các động thái quốc tế và khu vực,” ông nói. “Cả hai chúng tôi đều tin rằng quan hệ Trung Quốc-Mỹ là mối quan hệ song phương quan trọng nhất trên thế giới. Chúng ta phải làm cho nó phát triển và không bao giờ được làm hỏng nó.”
“Cả Trung Quốc và Hoa Kỳ đều có thể thu lợi từ hợp tác và chịu thiệt hại từ đối đầu. Hai nước chúng ta nên là đối tác chứ không phải đối thủ”, ông nói thêm.
“Tổng thống Trump và tôi cũng đồng ý xây dựng mối quan hệ Trung Quốc-Mỹ mang tính xây dựng và ổn định chiến lược nhằm thúc đẩy sự phát triển ổn định, lành mạnh và bền vững của quan hệ Trung Quốc-Mỹ, mang lại nhiều hòa bình, thịnh vượng và tiến bộ hơn cho thế giới.”
[CBSNews: China and the US must make their relationship work and “never mess it up,” Xi says]
8. Tehran đã cho phép một số tàu Trung Quốc đi qua eo biển Hormuz sau các cuộc đàm phán.
Đài truyền hình quốc gia Iran đưa tin hôm thứ Năm rằng Tehran đã cho phép một số tàu Trung Quốc đi qua eo biển Hormuz sau các cuộc thảo luận với ngoại trưởng và đại sứ Trung Quốc.
Iran đã thu phí các tàu thuyền khi đi qua tuyến đường thủy này. Bản báo cáo không đề cập đến việc các tàu Trung Quốc có trả tiền hay không.
Hãng tin CBS News đã theo dõi tàu chở dầu thô Yuan Hua Hu chở đầy dầu của Iraq đi qua eo biển vào thứ Tư. Con tàu này vẫn chưa vượt qua khu vực hiện diện của Hải quân Mỹ ngoài khơi Oman nhưng đang di chuyển nhanh chóng về phía Trung Quốc.
Đài truyền hình nhà nước IRIB đưa tin hôm thứ Năm rằng hơn 30 tàu đã đi qua eo biển kể từ tối thứ Tư “phối hợp với chính quyền và các cơ quan hàng hải của nước ta”.
“Với điều này, chúng ta có thể nói rằng một kỷ nguyên mới đã bắt đầu ở eo biển Hormuz,” một phóng viên của IRIB cho biết, “bởi vì giờ đây nhiều thủy thủ và quốc gia trên thế giới biết rằng cách tốt nhất, nhanh nhất và dễ dàng nhất để đi qua tuyến đường thủy quan trọng và chiến lược này chỉ có thể là thông qua sự phối hợp với Hải quân IRGC.”
Ngoài ra, Cơ quan Hàng hải Anh, gọi tắt là MTO hôm thứ Năm báo cáo rằng một tàu đã bị “những người không được phép” đột nhập và chiếm giữ khi đang neo đậu ngoài khơi khu vực bờ biển Fujairah của UAE. Họ cho biết tàu này đang hướng đến Iran.
[CBSNews: Tehran allows some Chinese vessels through Strait of Hormuz after talks, says semi-official news agency]
9. Iran tuyên bố UAE là “đối tác tích cực” trong cuộc chiến Mỹ-Israel.
Hôm thứ Năm, Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi cáo buộc Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất đóng vai trò tích cực trong cuộc chiến do Mỹ và Israel phát động chống lại đất nước ông.
“UAE là một đối tác tích cực trong hành động gây hấn này, điều đó là không thể nghi ngờ”, Araghchi nói như trên khi đang tham dự hội nghị thượng đỉnh BRICS ở Ấn Độ.
Ông Araghchi cũng đề cập đến một cuộc gặp tại UAE, trong thời chiến, giữa Thủ tướng Benjamin Netanyahu và Tổng thống UAE Mohammed bin Zayed Al Nahyan – một chuyến thăm mà Israel mô tả là “bí mật”. Abu Dhabi đã phủ nhận bất kỳ cuộc gặp nào đã diễn ra.
“Tôi phải nói rằng UAE đã trực tiếp tham gia vào hành động gây hấn chống lại đất nước tôi. Khi hành động gây hấn này bắt đầu, họ thậm chí còn từ chối lên án nó”, Araghchi nói.
Ông nói thêm: “Cũng đã rõ ràng rằng họ đã tham gia vào các cuộc tấn công này và thậm chí có thể đã hành động trực tiếp chống lại chúng tôi.”
Quan hệ giữa Iran và UAE đã trở nên căng thẳng kể từ ngày 28 tháng 2, khi các cuộc tấn công của Mỹ và Israel dẫn đến các cuộc tấn công trả đũa của Iran nhằm vào Israel và các đồng minh của Mỹ ở vùng Vịnh, bao gồm cả UAE.
Một thỏa thuận ngừng bắn mong manh đã được thiết lập kể từ ngày 8 tháng 4.
Iran đã nhiều lần cáo buộc các quốc gia vùng Vịnh cho phép lực lượng Mỹ tiến hành các cuộc tấn công từ lãnh thổ của họ.
Các quốc gia vùng Vịnh đã nhiều lần bác bỏ những cáo buộc này, thậm chí trước khi xung đột nổ ra, họ đã tuyên bố sẽ không cho phép lãnh thổ hoặc không phận của mình bị sử dụng để tấn công Iran.
Đài truyền hình nhà nước Iran đã phát sóng các bài phân tích cáo buộc UAE có liên quan đến các vụ tấn công vào Iran.
Đầu tháng này, UAE đã cáo buộc Iran tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa vào một cơ sở năng lượng ở tiểu vương quốc Fujairah phía đông nước này, một cáo buộc mà Iran đã bác bỏ.
[CBSNews: Iran says UAE “active partner” in U.S.-Israeli war]
10. Thủ tướng Latvia từ chức sau phản ứng dữ dội về các vụ đi lạc của máy bay điều khiển từ xa Ukraine.
Thủ tướng trung hữu của Latvia, bà Evika Siliņa, hôm thứ Năm tuyên bố sẽ từ chức sau khi đối tác liên minh cánh tả rút lại sự ủng hộ dành cho bà để phản đối việc sa thải một trong các bộ trưởng của họ.
“Tôi từ chức, nhưng tôi không từ bỏ,” bà nói. Chính phủ sẽ tiếp tục nhiệm vụ của mình cho đến khi nội các mới được phê chuẩn. Bà Siliņa giữ chức Thủ tướng từ tháng 9 năm 2023.
Đảng Tiến bộ cánh tả hôm thứ Tư tuyên bố sẽ không còn ủng hộ liên minh sau khi Siliņa cách chức Bộ trưởng Quốc phòng Andris Sprūds thuộc đảng Tiến bộ hôm Chúa Nhật, liên quan đến vụ việc hai máy bay điều khiển từ xa Ukraine lạc hướng và va vào các cơ sở dầu mỏ của quốc gia Baltic này.
Sau đó, Siliņa bổ nhiệm Đại tá quân đội Latvia Raivis Melnis làm người thay thế, nhưng việc phe Tiến bộ rút lui đã khiến liên minh Thống nhất Mới của Siliņa mất đa số trong quốc hội.
Giống như các nước láng giềng Baltic là Estonia và Lithuania, Latvia đã được đặt trong tình trạng cảnh giác cao độ kể từ khi Nga tiến hành cuộc xâm lược toàn diện Ukraine, cảnh báo rằng những hệ lụy từ cuộc chiến có thể thử thách sườn phía đông của NATO.
“Hiện tại, sự ganh đua chính trị và lợi ích đảng phái hẹp hòi đã lấn át trách nhiệm,” Silina nói hôm thứ Năm, đồng thời cho biết thêm rằng “những kẻ ba hoa chính trị đã không chọn giải pháp mà lại chọn khủng hoảng.”
Trước đó, Tổng thống Latvia Edgars Rinkēvičs cho biết ông sẽ gặp gỡ tất cả các đảng trong quốc hội vào thứ Sáu, “trong bối cảnh tình hình chính trị của đất nước”.
[Politico: Latvian prime minister quits after backlash over stray Ukrainian drone strikes]
11. Tòa Bạch Ốc cho biết, Tổng thống Trump và ông Tập Cận Bình đồng ý rằng eo biển Hormuz “phải được giữ mở”.
Tổng thống Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã gặp nhau hôm thứ Năm và đồng ý rằng eo biển Hormuz “phải luôn mở” và Iran “không bao giờ được phép sở hữu vũ khí hạt nhân”, theo Tòa Bạch Ốc.
Cuộc chiến tranh Iran được dự kiến là một trong những chủ đề chính của hội nghị thượng đỉnh được mong đợi giữa ông Tập Cận Bình và Tổng thống Trump – Iran đã công khai bày tỏ mong muốn Trung Quốc nhắc lại các điều khoản của mình cho một thỏa thuận hòa bình khả thi với Mỹ.
“ Hai bên đồng ý rằng eo biển Hormuz phải được giữ mở để hỗ trợ việc lưu thông năng lượng tự do”, theo thông cáo của Tòa Bạch Ốc về cuộc họp hôm thứ Năm.
“Chủ tịch Tập Cận Bình cũng đã làm rõ lập trường phản đối của Trung Quốc đối với việc quân sự hóa eo biển và bất kỳ nỗ lực nào nhằm thu phí sử dụng eo biển, đồng thời bày tỏ sự quan tâm đến việc mua thêm dầu của Mỹ để giảm sự phụ thuộc của Trung Quốc vào eo biển trong tương lai. Cả hai nước đều đồng ý rằng Iran không bao giờ được phép sở hữu vũ khí hạt nhân.”
Trước cuộc gặp, Ngoại trưởng Marco Rubio phát biểu trên kênh Fox News rằng “chúng tôi đã nói rõ với họ rằng bất kỳ sự ủng hộ nào dành cho Iran rõ ràng sẽ gây bất lợi cho mối quan hệ của chúng ta”. Ông lập luận rằng Trung Quốc có lợi ích trong việc giải quyết những tác động của xung đột Iran đối với việc vận chuyển dầu mỏ, và “chúng tôi hy vọng sẽ thuyết phục họ đóng vai trò tích cực hơn”.
Bản thông cáo không đề cập đến Đài Loan, mặc dù truyền thông Trung Quốc đưa tin rằng ông Tập Cận Bình đã nêu vấn đề này.
[Politico: Trump, Xi agree that the Strait of Hormuz “must remain open,” White House says]
12. Lệnh cấm truyền thông xã hội đối với trẻ thơ của Liên Hiệp Âu Châu có thể đến vào mùa hè này, von der Leyen nói
Chủ tịch Ủy ban Âu Châu Ursula von der Leyen cho biết việc nâng độ tuổi sử dụng mạng xã hội trên toàn Liên minh Âu Châu đang được xem xét và một đề xuất có thể được đưa ra ngay trong mùa hè này.
“Tôi tin rằng chúng ta cần xem xét việc trì hoãn việc sử dụng mạng xã hội,” bà von der Leyen phát biểu tại một hội nghị ở Copenhagen về cách bảo vệ trẻ em trong thời đại trí tuệ nhân tạo. “Tùy thuộc vào kết quả, chúng ta có thể đưa ra một đề xuất pháp lý vào mùa hè này.”
Bà Von der Leyen cho biết bà không muốn đưa ra kết luận trước khi một nhóm chuyên gia đang thảo luận về vấn đề an toàn trực tuyến cho trẻ em. Một số quốc gia, trong đó có Pháp, đã chủ động nâng độ tuổi sử dụng mạng xã hội lên 15 hoặc thúc đẩy một giải pháp chung cho toàn Liên Hiệp Âu Châu về vấn đề này.
Bà von der Leyen nói: “Thời thơ ấu và đầu tuổi thiếu niên là những năm tháng hình thành nhân cách, và tôi tin rằng chúng ta nên cho con cái mình thêm thời gian để trở nên kiên cường hơn trong giai đoạn dễ bị tổn thương này”.
Chủ tịch Ủy ban lập luận rằng Liên Hiệp Âu Châu có thể học hỏi từ “quốc gia tiên phong” Australia, quốc gia đã nâng độ tuổi tối thiểu sử dụng mạng xã hội lên 16 tuổi.
Chủ tịch Ủy ban Âu Châu cho biết việc nâng giới hạn độ tuổi không có nghĩa là các công ty công nghệ sẽ thoát khỏi trách nhiệm, đồng thời thúc giục các công ty công nghệ phải bảo đảm nền tảng của họ an toàn “ngay từ khâu thiết kế”, theo quy định của luật nền tảng của khối, Đạo luật Dịch vụ Kỹ thuật số, gọi tắt là DSA.
Bà von der Leyen cho biết, việc hạn chế quyền truy cập mạng xã hội đối với một số độ tuổi nhất định phụ thuộc vào “việc xác minh độ tuổi đáng tin cậy”, đồng thời đề cập đến ứng dụng xác minh độ tuổi mới được Liên Hiệp Âu Châu ra mắt gần đây.
Ứng dụng đó đã nhận được rất nhiều lời chỉ trích vì có những vấn đề bảo mật nghiêm trọng, nhưng bà von der Leyen vẫn khẳng định tại Copenhagen rằng nó “đáp ứng đầy đủ mọi yêu cầu”.
[Politico: EU social media ban could come this summer, von der Leyen says]
13. Các quan chức và lãnh đạo doanh nghiệp Hoa Kỳ tập trung dự tiệc chiêu đãi quốc khách.
Các phái đoàn Mỹ và Trung Quốc đã bắt đầu tập trung cho bữa tiệc chiêu đãi quốc khách, nội dung cuối cùng trong ngày đầu tiên bận rộn của Tổng thống Donald Trump tại Bắc Kinh.
Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth được nhìn thấy đang nói chuyện với Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thượng Tướng Đổng Quân (Dong Jun, 东俊) thông qua người phiên dịch. Giám đốc điều hành Xiaomi, Lôi Quân (Lei Jun, 雷军) được nhìn thấy đang chụp ảnh kỷ niệm với Giám đốc điều hành Tesla, Elon Musk.
Các quan chức Mỹ, bao gồm Bộ trưởng Tài chính Scott Bessent, Ngoại trưởng Marco Rubio, Phó Chánh văn phòng Tòa Bạch Ốc phụ trách chính sách Stephen Miller và các lãnh đạo doanh nghiệp như Tim Cook cũng được nhìn thấy đang giao lưu và trò chuyện với phía Trung Quốc.
Các bàn ăn được trang trí bằng những lẵng hoa cầu kỳ, trong đó có một bàn trưng bày mô hình công phu của Thiên Đàn - di sản UNESCO mà Tổng thống Trump và ông Tập Cận Bình đã đến thăm hôm nay - được bao quanh bởi ao hồ, cây xanh và những con thiên nga. Các nhân viên phục vụ mặc sườn xám đỏ, một loại trang phục truyền thống của Trung Quốc.
[CBSNews: US officials and business leaders gather for state banquet]