Dẫn nhập
1.Nhân loại, được Thiên Chúa tạo dựng trong tất cả sự vĩ đại của nó, ngày nay đang đối diện với một sự lựa chọn then chốt: hoặc xây dựng một Tháp Baben mới hoặc xây dựng thành phố nơi Thiên Chúa và nhân loại cùng chung sống. Mỗi thế hệ thừa hưởng nhiệm vụ định hình thời đại của mình, hướng dẫn lịch sử trở thành một nơi mà phẩm giá của mỗi người được bảo vệ, công lý được cổ vũ và tình huynh đệ được làm cho khả hữu. Tuy nhiên, mỗi thời đại cũng có nguy cơ tạo ra một thế giới vô nhân đạo và bất công hơn. Bất cứ khi nào nhân loại có nguy cơ làm tổn hại đến bản sắc thực sự của mình, chúng ta, những người Kitô hữu, hướng mắt lên Thiên Chúa Nhập Thể, biết rằng “chỉ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể thì mầu nhiệm nhân tính mới thực sự được sáng tỏ.” [1] Trong Chúa Giêsu Kitô, nhân tính này trong sự vĩ đại của nó trở thành Đường đi, Chân lý và Sự sống, mở ra con đường cho mỗi người chúng ta trưởng thành hướng tới sự trọn vẹn.
2. Được xây dựng trên Chúa Kitô, viên đá sống, chúng ta trải nghiệm hoạt động mạnh mẽ và huyền nhiệm của Chúa Thánh Thần, và chúng ta tin rằng mọi nỗ lực chân chính của con người để cộng tác với Người vì điều thiện sẽ được Cha trên trời chúc phúc, Đấng mà nơi Người chúng ta đặt niềm hy vọng. Vì lý do này, chúng ta có thể siêng năng đóng góp vào mọi sáng kiến xây dựng một thế giới công bằng hơn, và chúng ta có thể kêu gọi những người khác cộng tác trong việc cổ vũ sự phát triển toàn diện của mỗi con người. Chúng ta mong muốn tham gia đối thoại với tất cả mọi người nam nữ trong thời đại chúng ta, những người cùng chia sẻ với chúng ta những các biến cố, câu hỏi và khát vọng của nhân loại. [2] Cùng với họ, chúng ta tìm cách xác định những con đường mới vì lợi ích chung và để cổ vũ một cuộc sống xứng đáng cho tất cả mọi người. Thật vậy, sự cởi mở đối thoại là một phần không thể thiếu trong ơn gọi của Giáo hội bởi vì, được cấu thành trong Chúa Kitô như “một bí tích… của sự hiệp thông với Thiên Chúa và sự hiệp nhất của toàn thể nhân loại,” [3] Giáo hội nhận ra lịch sử là nơi mà Tin Mừng thách thức và hướng dẫn kinh nghiệm của con người.
3. Trong tinh thần này, Giáo hoàng Leo XIII đã ban hành Thông điệp Rerum Novarum vào năm 1891, năm nay chúng ta kỷ niệm 135 năm ngày ban hành với lòng biết ơn sâu sắc. Với văn kiện đó, vị tiền nhiệm yêu quý của tôi đã cổ vũ sự suy tư về xã hội, kinh tế và chính trị, mà ngày nay được gọi là “Học thuyết Xã hội của Giáo hội”. Khi một số người phản đối rằng Giáo hội không nên lãng phí năng lực vào những vấn đề thế tục, mà thay vào đó nên tập trung vào việc truyền đạt thông điệp về sự sống vĩnh cửu, Đức Leo XIII đã đáp lại bằng chủ nghĩa thực tiễn và khôn ngoan; Người nói rằng việc rao giảng Tin Mừng không thể bỏ qua cuộc sống cụ thể của con người. [4] Nhiều thập niên đã trôi qua kể từ đó, và Giáo quyền, các mục tử, các nhà thần học và các tín hữu đã tiếp tục suy gẫm về các vấn đề xã hội dưới ánh sáng của Tin Mừng. Ngày nay, Học thuyết Xã hội của Giáo hội là một di sản của sự khôn ngoan, nơi chúng ta tìm thấy các nguyên tắc tư duy, tiêu chuẩn phân định và phán xét, và các hướng dẫn cụ thể cho hành động. Được xây dựng trên Thánh Kinh và Truyền thống, và gắn kết với các ngành khoa học, nó giúp chúng ta hiểu rõ những thách thức của hiện tại và xác định những cách thức thích hợp để sống một chứng nhân Kitô giáo rõ ràng, với niềm vui và phục vụ thế giới. Nó không phải là một tập hợp các khái niệm bất động, mà là một kho tàng chân lý sống động bảo vệ và giải thích ơn gọi của nhân loại hướng tới một cuộc sống trọn vẹn và công chính. Do đó, tôi muốn góp thêm tiếng nói của mình vào truyền thống sống động này, cầu xin sự giúp đỡ của Thần Khí khôn ngoan, Đấng đã ngự trong thế gian từ thuở ban đầu (xem Châm ngôn 8:22-31).
Những điều mới mẻ của thời đại chúng ta
4. Trong khi Đức Leo XIII đã nói về “những điều mới mẻ” (rerum novarum) vào thời của Người, ngày nay chúng ta không thể chỉ giới hạn mình ở việc lặp lại những lời dạy sâu sắc của Người. Thay vào đó, chúng ta phải cầu xin Chúa ban cho sự khôn ngoan để giải thích những xu hướng lớn của thời đại chúng ta, đặc biệt là những tiến bộ kỹ thuật. Trong những năm gần đây, ngày càng rõ ràng hơn về tốc độ và mức độ sâu sắc mà kỹ thuật số hóa, trí tuệ nhân tạo (AI) và robot đang biến đổi thế giới của chúng ta. Kỹ thuật không nên được coi, tự thân nó, như một lực lượng đối kháng với nhân loại. Ngược lại, nó đã là một phần của lịch sử chúng ta ngay từ đầu như “một thực tại nhân bản sâu sắc, gắn liền với quyền tự chủ và tự do của con người.” [5] Trải qua nhiều thế kỷ, sự phát triển kỹ thuật đã cải thiện đáng kể điều kiện sống của nhân loại. Đồng thời, mỗi giai đoạn tiến bộ cũng đã bộc lộ sự mơ hồ của các công cụ có thể gây hại khi không hướng đến điều tốt đẹp. Tuy nhiên, ngày nay chúng ta thấy mình đang đối diện với một tình huống mới. Sức mạnh và sự phổ biến của các kỹ thuật mới nổi được đan xen vào cấu trúc của cuộc sống hàng ngày, định hình các quy trình ra quyết định và ảnh hưởng sâu sắc đến trí tưởng tượng tập thể: “Chưa bao giờ nhân loại lại có quyền lực đối với chính mình như vậy.” [6] Các kỹ thuật mới mở ra một chân trời trải dài theo những hướng có thể tưởng tượng được nhưng chưa thể dự đoán đầy đủ. Điều này làm phức tạp việc đánh giá tác động tiềm tàng của chúng và những ảnh hưởng lâu dài mà chúng có thể gây ra đối với cả phẩm giá của cá nhân và lợi ích chung.
5. Giờ đây, chúng ta phải đối diện với những thách thức của thời đại với tư duy rõ ràng và trách nhiệm. Cần phải thiết lập các quy định thích hợp các công cụ có khả năng duy trì công lý và kiềm chế những tác động bóp méo của sức mạnh kỹ thuật. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ giới hạn ở việc điều chỉnh. Như Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã cảnh báo, chúng ta phải thực tế tự hỏi ai đang nắm giữ quyền lực này ngày nay và họ sử dụng nó như thế nào: “Cũng phải thừa nhận rằng năng lực hạt nhân, kỹ thuật sinh học, kỹ thuật thông tin, kiến thức về DNA của chính chúng ta và nhiều khả năng khác mà chúng ta đã có được… đã trao cho những người có kiến thức, và đặc biệt các nguồn lực kinh tế để sử dụng chúng, một sự thống trị ấn tượng đối với toàn thể nhân loại và toàn thế giới.” [7] Trong quá khứ, phần lớn việc hướng dẫn và chỉ đạo đổi mới thuộc về Nhà nước. Tuy nhiên, ngày nay, động lực chính của sự phát triển là các bên tư nhân, thường là xuyên quốc gia, được trang bị nguồn lực và khả năng can thiệp vượt trội so với nhiều Chính phủ. Do đó, sức mạnh kỹ thuật mang một khía cạnh “tư nhân” chưa từng có, điều này càng làm cho việc phân định, quản lý và định hướng sức mạnh đó hướng tới lợi ích chung trở nên khó khăn hơn.
6. Vì lý do này, cần phải bắt đầu một quá trình phân định chung để xác định nguồn gốc tinh thần và văn hóa của những chuyển đổi đang diễn ra. Nếu chúng ta chỉ tập trung vào những tình huống bất ngờ, chúng ta có nguy cơ để cho chuỗi các tình huống khẩn cấp định hướng con đường của mình. Chúng ta đang sống trong một giai đoạn chuyển đổi nhanh chóng, một “thời đại mới”, trong đó – trong khi một số người đang tranh giành tương lai của các kỹ thuật mới và những người khác dành thời gian để suy gẫm về vấn đề này – thì hầu hết mọi người đang quan sát và chờ đợi, theo dõi từ xa và chỉ hy vọng điều tốt đẹp nhất. Chính vì lý do này, những câu hỏi quan trọng đặt ra trong lương tâm chúng ta và không thể tránh khỏi nữa: Chúng ta đang đi đâu? Chúng ta muốn hướng tới mục tiêu nào? Chúng ta nên chọn hướng đi nào với tư cách là một dân tộc và một cộng đồng nhân loại?
Hai hình ảnh trong Kinh Thánh
7. Để trả lời những câu hỏi này và phân định cách thức điều hướng một cách có trách nhiệm trong kỷ nguyên Trí tuệ Nhân tạo, tôi muốn gợi nhớ đến hai cảnh trong Kinh Thánh: việc xây dựng Tháp Baben (xem Sáng thế 11:1-9) và việc xây dựng lại các bức tường thành Giêrusalem (xem Nơ-khe-mi-a 2-6). Câu chuyện về Baben xuất hiện trong Sách Sáng thế, ở nguồn gốc của loài người, ngay sau gia phả của các con trai Nô-ê. Sau khi định cư trên một vùng đồng bằng ở xứ Shinar, dân chúng quyết định xây dựng một thành phố và một tòa tháp “đỉnh cao đến tận trời” (Sáng thế 11:4). Lo sợ bị phân tán khắp trái đất, họ tìm cách đảm bảo sự ổn định và quyền lực cho bản thân, và trên hết là để “tạo dựng danh tiếng” cho mình. Đó là một kỳ tích ấn tượng: một ngôn ngữ duy nhất, một kỹ thuật duy nhất, một hướng đi duy nhất. Tuy nhiên, dự án này ẩn chứa một mối nguy hiểm sâu xa. Đó là một dự án được hình thành mà không tham khảo ý kiến của Thiên Chúa, được hỗ trợ bởi một sự đồng nhất loại bỏ sự đa dạng và chọn sự đồng nhất hóa hơn là sự hiệp thông. Khi một thành phố được xây dựng trên sự kiêu ngạo và tuyên bố về sự tự cung tự cấp, sự thông đạt sẽ bị gián đoạn, ngôn ngữ bị lẫn lộn và mọi người không còn hiểu nhau nữa. Kết quả không phải là sự thống nhất, mà là sự phân tán. Do đó, tháp Baben cho thấy giới hạn của bất cứ nỗ lực nào, dù vĩ đại đến đâu, xuất phát từ sự tự khẳng định, hy sinh phẩm giá con người vì hiệu năng và khao khát vươn tới thiên đường mà không có sự chúc phúc của Thiên Chúa.
8. Đến lượt mình, sách Nơ-khe-mi-a khai mở vào thời điểm dễ bị tổn thương lớn trong lịch sử Israel cổ thời. Sau cuộc lưu đày ở Babylon, một phần dân chúng trở về Giêrusalem, nhưng thành phố vẫn còn đổ nát, tường thành sụp đổ và cổng thành bị cháy rụi (xem Nơ-khe-mi-a 1-2). Nơ-khe-mi-a, một người Do Thái phục vụ vua Ba Tư Artaxerxes, nhận được tin về tình trạng thảm khốc của thành phố tổ tiên mình. Trước khi hành động, ông đã nhịn ăn, cầu nguyện và cầu thay cho dân chúng. Sau đó, ông xin phép nhà vua trở về Giêrusalem và khi đến nơi, ông lặng lẽ xem xét các khu vực bị tàn phá. Ông không áp đặt giải pháp từ trên xuống. Ông triệu tập các gia đình, giao cho mỗi gia đình một phần tường thành để xây dựng lại, lắng nghe những lo lắng của họ, phối hợp nỗ lực của họ và giải quyết mọi sự phản đối. Câu chuyện cho thấy thành phố được tái sinh như thế nào, không phải nhờ sáng kiến của một người, mà nhờ trách nhiệm chung của tất cả mọi người: đàn ông, đàn bà, thầy tế lễ, thợ thủ công, chủ hộ và thanh niên đều đóng một vai trò. Đó là một công việc đặt Chúa ở trung tâm, xây dựng lại các mối quan hệ trước khi xây dựng lại bằng đá. Như vậy, Giêrusalem cổ thời tái khám phá một ngôn ngữ chung — không phải là ngôn ngữ của sự đồng nhất, mà là ngôn ngữ của sự hiệp thông, cụ thể là sự hài hòa nảy sinh khi tất cả mọi người đảm nhận vai trò của mình và nhận ra rằng sức mạnh của họ đến từ Thiên Chúa.
9. Dựa trên hai hình ảnh này, Chúa Thánh Thần thách thức chúng ta ngày nay về mối quan hệ của chúng ta với kỹ thuật và cuộc cách mạng kỹ thuật số đang diễn ra. Những khám phá khoa học là những tài năng được giao phó cho nhân loại để chúng có thể sinh hoa kết trái (xem Mt 25:14-30). Kỹ thuật có sức mạnh để chữa lành, kết nối, giáo dục và bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta; nhưng nó cũng có thể chia rẽ, loại trừ và tạo ra những hình thức bất công mới. Về mặt trừu tượng, kỹ thuật trong bà tự nó không phải là giải pháp cho các vấn đề của nhân loại, cũng như nó không cố hữu xấu xa. Tuy nhiên, trên thực tế, kỹ thuật không bao giờ trung lập, bởi vì nó mang đặc điểm của những người thiết kế, tài trợ, điều chỉnh và sử dụng nó. Do đó, sự lựa chọn chính không phải là giữa "có" hay "không" với kỹ thuật, mà là giữa việc xây dựng tháp Baben hay xây dựng lại Giêrusalem; giữa một quyền lực tuyên bố thống trị trời đất và một dân tộc cùng nhau làm việc trước sự hiện diện của Chúa để xây dựng lại bức tường chung sống huynh đệ.
10. Do đó, chúng ta phải tránh "hội chứng Baben", cụ thể là sự sùng bái lợi nhuận hy sinh kẻ yếu, sự đồng nhất làm vô hiệu hóa sự khác biệt, và cao ngạo cho rằng một ngôn ngữ duy nhất - thậm chí là ngôn ngữ kỹ thuật số - có thể phiên dịch mọi điều, bao gồm cả mầu nhiệm con người, thành dữ liệu và hiệu suất. Nguy cơ phi nhân hóa - xây dựng một tương lai loại trừ Chúa và biến người khác thành phương tiện - là một cám dỗ cổ xưa và luôn mới mẻ mà ngày nay mang hình hài kỹ thuật. Thay vào đó, chúng ta hãy chọn “con đường của Nơ-khe-mi-a”, con đường nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cùng nhau xây dựng Thành phố của Thiên Chúa hành một nơi an toàn cho những người lưu vong trở về. Việc xây dựng lại ngày nay có nghĩa là nhận ra rằng, chính từ sự đa dạng của các tiếng nói và tầm nhìn – dù đôi khi chúng nhắc nhở chúng ta về sự hỗn loạn do sự đa dạng của các ngôn ngữ nói gây ra – một khả năng tươi sáng xuất hiện. Thật vậy, đó là khả năng cùng nhau xây dựng, biến sự đa dạng thành một nguồn lực và biến việc lắng nghe và đối thoại thành nền tảng chung để vun đắp công lý và tình huynh đệ. Trong nhiệm vụ chung này, các Kitô hữu khám phá ra vai trò độc đáo của mình trong việc hướng dẫn hành động về phía Thiên Chúa để, trong ánh sáng của Người, chủ nghĩa đa nguyên không tan biến thành sự hỗn loạn, mà thay vào đó, thông qua việc thực hành tính đồng nghị, nó trở thành không gian trong đó nhân loại tái khám phá nền tảng vững chắc và mục đích cuối cùng của mình. Trong sách Khải Huyền, Thánh Gioan nhìn thấy Giêrusalem Mới “từ trời xuống từ Thiên Chúa” (Khải Huyền 21:2) như một oo7n phúc cho toàn thể nhân loại. Và tầm nhìn về ân sủng này là lời mời gọi chúng ta, những người Kitô hữu, cùng nhau làm việc để thúc đẩy một cuộc sống hòa bình, công bằng và phẩm giá trong cộng đồng trong “các thành phố” ngày nay.
Xây dựng vì lợi ích chung
11. Xây dựng một thành phố dựa trên lợi ích chung trước hết và trên hết có nghĩa là xây dựng trên một mối quan hệ vững chắc với Chúa. Điều đó có nghĩa là nhận ra rằng chân lý về tình yêu của Người kêu gọi chúng ta sống “trong tất cả sự trọn vẹn của nó” (Ga 10:10) và hiệp thông với Người. Giống như Thánh Augustinô, chúng ta cũng có thể nói: “Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng chúng con cho chính Chúa, và lòng chúng con không yên nghỉ cho đến khi được yên nghỉ trong Chúa.” [8] Thật vậy, Chúa đã khắc ghi trong lòng chúng ta một khát vọng hạnh phúc bao trùm tất cả các chiều kích của cuộc sống. Giáo hội, trong cuộc đối thoại với những người nam nữ thời đại chúng ta, nhận ra nhu cầu cấp thiết phải bảo vệ và hướng dẫn khát vọng này hướng tới chân lý sâu sắc nhất của nó.
12. Thứ hai, xây dựng vì lợi ích chung có nghĩa là chấp nhận những giới hạn và điểm yếu của nhân loại mà không coi chúng là một sai lầm cần được sửa chữa. Ngày nay, khát vọng về sự trọn vẹn của cuộc sống đang có nguy cơ bị lừa dối bởi những mục tiêu sai lầm, chẳng hạn như triển vọng về một kỹ thuật hứa hẹn giải phóng chúng ta khỏi mọi điểm yếu, và các mô hình hạnh phúc bỏ lại phía sau toàn bộ dân số. Thường thì, chúng ta đặt hy vọng vào những “nâng cấp” không giới hạn, vào những hình thức tiến bộ làm trầm trọng thêm bất bình đẳng, và vào những giải pháp tức thời không thể hàn gắn vết thương của con người. Kết quả là, trong khi một số người theo đuổi ảo tưởng về sự tự khẳng định không giới hạn, nhiều người lại bị tước đoạt những nhu cầu cơ bản. Giáo hội nhắc nhở chúng ta, với một giọng nói kiên định nhưng khiêm nhường, rằng sự viên mãn thực sự không đạt được bằng cách loại bỏ điểm yếu mà thông qua sự phát triển hài hòa. Nó được tìm thấy ở nơi tự do và trách nhiệm đan xen với sự quan tâm lẫn nhau và tình liên đới thực sự, và nơi tiến bộ được đo lường bằng phẩm giá của mỗi người và lợi ích của tất cả mọi người.
13. Thứ ba, xây dựng một thế giới mà mọi người đều có thể phát triển thịnh vượng đòi hỏi trách nhiệm và lòng can đảm chung. Không ai có thể một mình gánh vác trọng trách của những thách thức mà thế giới đang phải đối diện, cũng như không ai yếu đuối đến mức không thể đóng góp phần của mình, vì “sức mạnh được hoàn thiện trong sự yếu đuối” (2 Cô-rinh-tô 12:9). Tất cả đều được giao phần riêng của mình trên bức tường: các nhà khoa học và nhà nghiên cứu, các doanh nhân và công nhân, các nhà giáo dục và nhà lập pháp, xã hội dân sự, các phong trào quần chúng và các cộng đồng tín ngưỡng. Đây là luận lý học của nguyên tắc phụ đới, coi trọng sự hợp tác giữa các thế hệ, các dân tộc, các ngành và các nền văn hóa như là cách tốt nhất để thúc đẩy sự ổn định, thịnh vượng và hòa bình. Chúng ta không nên bị đe dọa bởi những căng thẳng hay khác biệt vì chúng có thể trở thành những động lực sáng tạo khi được dẫn dắt bởi trách nhiệm chung.
14. Cuối cùng, xây dựng vì lợi ích chung đòi hỏi một ngôn ngữ mang tính Tin Mừng. Chúng ta phải tránh những lời lẽ xúc phạm hoặc đối kháng, thay vào đó chọn sự rõ ràng soi sáng và sự thẳng thắn mở ra những khả năng mới. Chúng ta không thể dung thứ cho sự nhiệt tình ngây thơ, cũng không thể nuôi dưỡng những nỗi sợ hãi vô căn cứ. Thay vào đó, chúng ta hãy thiết lập các tiêu chuẩn để phân định — phẩm giá của nhân vị, điểm đến phổ quát của của cải, việc ưu tiên chọn người nghèo, chăm lo cho ngôi nhà chung và hòa bình của chúng ta — và chúng ta hãy chuyển những tiêu chuẩn này thành những thực tiễn như quy hoạch có trách nhiệm, đánh giá tác động xã hội và con người, sự hòa nhập của những người dễ bị tổn thương nhất, thúc đẩy khả năng đọc viết kỹ thuật số và hướng nghiên cứu và kỹ nghệ hướng tới công lý và hòa bình.
Giữ vững nhân tính
15. Trong Năm Thánh Thường lệ 2025 vừa qua, chúng ta đã bước đi như những người hành hương của hy vọng và được ban nhiều ân sủng. Được củng cố bởi những ơn lành này, chúng ta có thể tự tin tiến về phía trước để đối diện với những nhiệm vụ khó khăn và những thách thức đầy đòi hỏi ở phía trước. Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, khi phẩm giá con người bị đe dọa bởi những hình thức phi nhân hóa mới, nhiệm vụ cấp bách của chúng ta là phải giữ vững nhân tính sâu sắc. Chúng ta phải yêu thương bảo vệ sự vĩ đại của nhân tính được ban tặng cho chúng ta và được bày tỏ trọn vẹn trong Chúa Kitô, vẻ huy hoàng mà không một cỗ máy nào có thể thay thế được. Sự tiến bộ thực sự luôn bắt nguồn từ một trái tim rộng mở với người khác, một trí tuệ sẵn sàng lắng nghe và một ý chí tìm kiếm những gì đoàn kết hơn là những gì chia rẽ.
16. Tôi tha thiết kêu gọi tất cả các tín hữu Công Giáo, tất cả các Kitô hữu và tất cả những người thiện chí. Chúng ta đừng ngại xắn tay áo vào “công trường xây dựng” của thời đại chúng ta. Giống như Nơ-khe-mi-a, chúng ta hãy cầu nguyện, lập kế hoạch khôn ngoan và làm việc kiên trì, đặt Chúa lên hàng đầu trong mọi hành động và con người làm trung tâm trong mọi lựa chọn của mình. Như vậy, những “hòn đá bị loại bỏ” – người nghèo, người bệnh, người di cư và những người thấp kém nhất trong chúng ta – sẽ trở thành hòn đá góc, và một ngôi nhà chung vững chắc, ấm áp sẽ hiện hữu trên trái đất, nơi tình yêu thương và lòng trung tín cuối cùng sẽ gặp nhau, và sự công chính và hòa bình sẽ ôm lấy nhau (xem Tv 85:10). Đây là ơn lành mà chúng ta cầu xin Chúa; và nhiệm vụ trước mắt chúng ta là trở thành những người xây dựng sự hiệp thông, chứ không phải là những kiến trúc sư của tháp Baben. Chúng ta phải là những người phục vụ Nước Trời sắp đến, chứ không phải là những chúa tể của những tòa tháp định sẵn sẽ sụp đổ. Với tấm lòng của một người chăn chiên và một người cha, tôi kêu gọi mọi người hãy từ bỏ việc xây dựng thêm một Tháp Baben nữa và cùng chung tay xây dựng lợi ích chung, để nhân loại không bao giờ đánh mất vẻ đẹp của mình, và thế giới một lần nữa sẽ nhận ra trái tim con người là nơi mà Thiên Chúa muốn ngự trị.
Kỳ tới: Chương Một