Các thành viên của nhóm người da trắng thượng đẳng Patriot Front có trụ sở tại Mỹ được nhìn thấy trong một cuộc tụ họp. (Ảnh: Facebook/American Nationalists)


Trước sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc Kitô giáo, việc khôi phục chủ nghĩa nhân bản Kitô giáo và sứ mệnh chính trị của công dân Kitô giáo, mang đến một con đường để đổi mới phẩm giá, tình đoàn kết và nền tảng đạo đức của hợp tác quốc tế.

Michael Driessen, trong mục Global Catholic của Hãng tin UCA News, ngày 13 tháng 9 năm 2026, chia sẻ: Trong mười năm qua, tôi đã thực hiện một dự án mà tôi gọi là “Chính trị toàn cầu của đối thoại liên tôn”.

Tôi sử dụng thuật ngữ đó để suy tư về sự chuyển đổi liên tục của các truyền thống tôn giáo cuối thời cận đại và để chỉ ra những nỗ lực của họ trong việc thể hiện một tầm nhìn về hợp tác quốc tế.

Được xem như một phong trào hoặc lý tưởng toàn cầu, đối thoại liên tôn cho chúng ta một cái nhìn rõ ràng về những gì các truyền thống tôn giáo toàn cầu đang làm về mặt chính trị và thần học cuối thời cận đại.

Một trong những điều đáng lưu ý – có lẽ mang tính mỉa mai, nhưng chắc chắn không phải là trùng hợp ngẫu nhiên – là sự phát triển gần đây của đối thoại liên tôn trên trường quốc tế và sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách trong việc tham gia vào dự án đó đã trùng hợp với sự khởi đầu của một cuộc khủng hoảng lớn về chủ nghĩa tự do thế tục như là triết lý chính trị dẫn dắt các nền dân chủ phương Tây, một triết lý mà các giá trị của nó cũng thúc đẩy hợp tác quốc tế như một dự án chung.

Một mặt, cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tự do chính trị có liên hệ chặt chẽ với cuộc khủng hoảng của một hệ thống quốc tế được xây dựng dựa trên nó để tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác.

Mặt khác, cả hai cuộc khủng hoảng cũng có liên hệ chặt chẽ với sự trỗi dậy của các chủ thể tôn giáo, truyền thống, hiểu biết triết học và các phong trào như những động lực chính trong chính trị quốc tế.

Một truyền thống sinh ra từ khủng hoảng

Đây không phải là lần đầu tiên chủ nghĩa tự do, dân chủ và hệ thống quốc tế phải đối diện với khủng hoảng, cũng không phải là lần đầu tiên các truyền thống tôn giáo nghiêm túc tham gia với các quốc gia và tổ chức quốc tế. Theo một cách hiểu về sự ra đời của Hiến chương Liên hợp quốc và Tuyên ngôn Toàn cầu về Nhân quyền, các truyền thống tôn giáo đóng vai trò then chốt trong việc cung cấp nền tảng đạo đức và chuẩn mực – như đồng nghiệp Robert Hefner của tôi đã nhận định – để mở rộng các hệ thống tri thức đạo đức và chuẩn mực mà cả hai văn kiện và tổ chức này dựa trên đó.

Bằng cách đó, họ đã truyền tải niềm hy vọng tâm linh và, quan trọng hơn cả, sức mạnh tinh thần vào những văn kiện này trước bối cảnh chiến tranh và tàn phá toàn cầu.

Những nỗ lực của họ có thể được hiểu là một thao tác thành công, tiên phong trong đối thoại liên tôn – đặc biệt nếu nhìn vào các cuộc thảo luận của UNESCO, nơi quy tụ nhiều nhà tư tưởng tôn giáo và triết học lớn và đa dạng, và đã tạo ra một khuôn khổ khả hữu cho nhân quyền.

Trong số những người khác, nhà triết học và thần học Công Giáo người Pháp Jacques Maritain (1882-1973) là một nhân vật chủ chốt trong câu chuyện này, cũng như khái niệm về Chủ nghĩa Nhân bản toàn diện hay Chủ nghĩa Nhân bản Kitô giáo của ông, điều sẽ ảnh hưởng đến cả những cuộc tranh luận đó và các cuộc thảo luận tiếp theo của Công đồng Vatican II, đặc biệt là Dignitatis Humanae. Khi nhìn vào cuộc khủng hoảng của trật tự quốc tế và chủ nghĩa đa phương ngày nay, việc quay trở lại những yếu tố cốt lõi của giải pháp chính trị và tôn giáo đã làm cho chủ nghĩa nhân bản Kitô giáo trở thành một phản ứng hiệu quả đối với cuộc khủng hoảng của thời hiện đại, và làm điều đó với một cái nhìn mới, là điều rất hữu ích.

Trái tim của chủ nghĩa nhân bản Kitô giáo – rằng tất cả con người đều được Chúa tạo dựng với phẩm giá bất khả xâm phạm; rằng phẩm giá đó đòi hỏi tự do tôn giáo; và rằng cả phẩm giá và tự do đều cần sự phát triển của một thực hành công dân toàn diện và tích cực hơn để được hiện thực hóa – đã đưa ra một công thức cơ bản để tạo ra và đánh giá các định chế ở mọi bình diện chính trị.

Nó đã định hình cách chúng ta suy nghĩ về hệ thống quốc tế, nhà nước và chính trị địa phương – và tôi cho rằng nó có thể giúp chúng ta làm điều đó ngày nay.

Và theo nghĩa này, chủ nghĩa nhân bản Kitô giáo đại diện cho một loại vòng cung lịch sử liên kết các triều đại giáo hoàng từ Công đồng Vatican II trở đi – từ thông điệp Populorum Progressio của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đến thông điệp Centesimus Annus của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đến lời tuyên bố của Đức Giáo Hoàng Phanxicô rằng “Chúa Giêsu là chủ nghĩa nhân bản của chúng ta”. Một cách hiểu thông điệp Magnifica Humanitas của Đức Giáo Hoàng Leo XIV là nó thể hiện nỗ lực khôi phục truyền thống đó và cố ý áp dụng nó vào điều mà ngài gọi là “cuộc khủng hoảng chủ nghĩa đa phương” của chúng ta.

Trong phần còn lại của bài phát biểu này, tôi muốn nêu ra hai điểm về việc đổi mới và/hoặc đọc lại chủ nghĩa nhân bản Kitô giáo trong thời đại biến động quốc tế hiện nay.

Sự đánh mất ơn gọi của công dân Kitô giáo

Trước hết, tôi muốn nhấn mạnh rằng những yếu tố này cùng nhau chỉ ra nhu cầu khôi phục lại điều mà tôi gọi là ý thức đã mất về ơn gọi chính trị của công dân Kitô giáo.

Có lẽ, sau khi cho rằng vấn đề chính trị đã được giải quyết, thần học Kitô giáo và các phong trào lấy cảm hứng từ chủ nghĩa nhân bản Kitô giáo trong 50 năm qua đã để lại quá nhiều khoảng trống cho các câu chuyện tôn giáo khác lấp đầy khoảng trống chính trị.

Điều này bao gồm các quan điểm Kitô giáo thay thế về chính trị vốn đề cao chủ nghĩa dân tộc và quyền lực theo những cách nguy hiểm, trái ngược với sự hiểu biết nhân bản Kitô giáo về tự do và phẩm giá.

Và có lẽ đặc biệt hôm nay, tôi muốn nhớ đến phần “ơn gọi” trong lời kêu gọi đó.

Trong tác phẩm của mình, Maritain và Henri de Lubac (1896-1991), một nhà thần học và Hồng Y người Pháp, đã viết một cách say mê về sự cấp bách về mặt anh hùng tâm linh của chủ nghĩa nhân bản toàn diện, dẫn đến sự hy sinh vì lợi ích chung và sự hiệp thông xã hội dựa trên tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân.

Maritain và Lubac đã viết một cách cảm động – theo những cách mà tôi nghĩ chúng ta đã lãng quên – về chứng nhân và sức mạnh của tình yêu huynh đệ và tình liên đới với những người bị ruồng bỏ, và về hương vị của sự hiệp thông nhân loại mà nó truyền cảm hứng trong trái tim con người để biến đổi thế giới cho phù hợp.

Tôi không nghĩ rằng chúng ta có thể có được một thước đo rõ ràng về sự huy động của các nhân vật Công Giáo đã đầu tư vào chính trị dân chủ và xây dựng các cấu trúc quốc tế trong giai đoạn này nếu không có sự hiểu biết nào đó về điều mà các đồng nghiệp của tôi, Rosario Forlenza và Bjorn Thomassen, gọi là tinh thần chính trị của phong trào.

Maritain gọi đây là “mạch máu của các tin mừng”; ông viết rằng: “Từ khoảnh khắc chúng ta hiểu rằng mình được tạo dựng cho các mối phúc, chúng ta không còn sợ chết nữa, nhưng chúng ta cũng không thể cam chịu sự áp bức và nô lệ của anh chị em mình nữa, và chúng ta khao khát, ngay từ thuở ban đầu này, hướng tới một trạng thái giải phóng xứng đáng với phẩm giá của họ.”

Ở đây, Maritain không chỉ suy nghĩ về dân chủ như một phản ứng trí thức đối với chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa biệt lập – mặc dù điều đó rõ ràng cũng rất quan trọng trong tác phẩm của ông.

Ông cũng coi dân chủ như một đức tin sống động, điều mà ông gọi là “một lối sống toàn diện”, một nơi mà người nghèo có thể được chúc phúc, nơi những người bị bách hại vì sự công chính có thể xây dựng một vương quốc công lý, và nơi kẻ thù có thể được yêu thương.

Trong bối cảnh này, tôi rất ấn tượng về cách Đức Giáo Hoàng Leo kết thúc thông điệp Magnifica Humanitas bằng cách nhắc lại bài ca Magnificat của Đức Mẹ như một nguồn cảm hứng cho chính trị, cụ thể là, như một nơi mà những kẻ quyền lực có thể bị lật đổ khỏi ngai vàng của họ. Có một sức hấp dẫn dân chủ mạnh mẽ trong quan điểm đó, đặc biệt là trong bối cảnh khủng hoảng dân chủ hiện nay. Như triết gia người Pháp Henri Bergson đã tuyên bố năm 1932 và được Maritain trích dẫn, “Bản chất của dân chủ là tin mừng, và tình yêu là động lực quyết định của nó.”

Đó là một sứ mệnh tinh thần, đòi hỏi sự đổi mới văn hóa và chính trị, tổ chức xã hội, chứng nhân xã hội cụ thể và sự hiểu biết cụ thể về mối quan hệ giữa cả hai với nhà nước.

Tôi nghĩ tên của dự án này rất quan trọng. Trước chủ nghĩa dân tộc Kitô giáo – với các tổ chức tự hào sử dụng danh xưng đó – tôi nghĩ chúng ta không nên sợ hãi khi tự gọi mình là “những người theo chủ nghĩa nhân bản Kitô giáo” và “những người theo chủ nghĩa dân chủ Kitô giáo” – ít nhất là với chữ “d” viết thường – những người Kitô hữu cùng kiến tạo xã hội dân sự và nền chính trị xây dựng cuộc sống chung của chúng ta.

Nhiều chủ nghĩa nhân bản tôn giáo, một cuộc đối thoại

Một điểm cuối cùng. Tôi muốn nhấn mạnh một sợi chỉ xuyên suốt tất cả những điều này, liên quan đến đối thoại – cụ thể là đối thoại liên tôn – như là chìa khóa cho tầm nhìn về chủ nghĩa nhân bản này và loại hình hợp tác quốc tế mà nó hình dung.

Chúng ta cần nói về chủ nghĩa nhân bản tôn giáo ở dạng số nhiều. Cũng như vào thời điểm soạn thảo Tuyên ngôn Toàn cầu về Nhân quyền, ngày nay chúng ta có nhiều chủ nghĩa nhân bản tôn giáo tham gia vào một nỗ lực tương tự nhằm đổi mới đạo đức và chuẩn mực để đáp ứng một cuộc khủng hoảng quốc tế.

Điều này cho thấy rằng các truyền thống tôn giáo – một lần nữa, ở dạng số nhiều và hợp tác với nhau – đã liên kết sự hiểu biết do Thiên Chúa ban tặng về phẩm giá con người và tính thánh thiêng của sự sống với nhu cầu đổi mới tình liên đới xã hội, các quyền bao hàm, hình thành quyền công dân và hợp tác quốc tế.

Các cộng đồng tôn giáo này thường làm như vậy một cách rõ ràng và đáng ngạc nhiên bằng cách đặt Liên Hợp Quốc làm trung tâm như một nơi để bảo vệ các quyền này, và bằng cách kết nối với các truyền thống khác nhau của chủ nghĩa nhân bản tôn giáo để làm điều đó. Ở đây tôi nhớ đến Phong trào Hồi giáo Nhân đạo (1) ở Indonesia như một ví dụ quan trọng, nhưng còn nhiều ví dụ khác nữa. Tóm lại, những động lực này, khi được xem xét cùng nhau, mang đến cơ hội để tạo ra và củng cố các liên minh đa tôn giáo và đa phương mới nhằm hỗ trợ hợp tác quốc tế, đây cũng là tiêu đề của một báo cáo gần đây do Globethics, Wilton Park, UN Faith for Rights và Liên minh Nghị viện Liên chính phủ đồng tài trợ, mà tôi đã tham gia biên soạn.

Những hình thức hợp tác mới này giữa các nhà hoạch định chính sách và các tác nhân tôn giáo có thể được hiểu là sự khởi đầu của một vòng đối thoại toàn cầu mới và mở rộng nhằm đổi mới nền tảng đạo đức và chuẩn mực của hợp tác quốc tế trước cuộc khủng hoảng toàn cầu.

Chú thích

1. Phong trào Hồi giáo Nhân đạo là một sáng kiến toàn cầu do Nahdlatul Ulama (NU) – tổ chức Hồi giáo lớn nhất thế giới, với khoảng 90 triệu thành viên ở Indonesia – khởi xướng. Phong trào này tìm cách tái định hình các giáo lý chính thống Hồi giáo để thúc đẩy tình yêu thương phổ quát, lòng trắc ẩn (rahmah) và sự tôn trọng đối với một trật tự quốc tế đa tôn giáo dựa trên các quy tắc.

Đây là phiên bản đã qua biên tập của bài viết từng được đăng lần đầu trên trang của Quỹ Centesimus Annus Pro-Pontifice vào ngày 10 tháng 9 năm 2026, và được Global Catholic đăng lại với sự cho phép.