Tin Giáo Hội Hoàn VũChọn ngày khác
ĐGH Phanxicô nói: Cầu nguyện là phương thức thay đổi để yêu kẻ thù của mình.
Giuse Thẩm Nguyễn21/02/2017
ĐGH Phanxicô nói: Cầu nguyện là phương thức thay đổi để yêu kẻ thù của mình.

(EWTN News/CAN) Con đường dẫn đến sự thánh thiện đòi hỏi chúng ta phải bắt chước Chúa Kitô bằng cách yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ làm khốn mình.

Trong chuyến viếng thăm các giáo xứ lần thứ 13 với cương vị Giáo Hoàng tại giáo phận Roma, ĐGH đã tiếp xúc với các bạn trẻ, những người đau yếu, các gia đình và những thành viên của tổ chức Caritas. Ngài cũng đã giải tội cho bốn tín hữu của giáo xứ. Trong thánh lễ Chúa Nhật ngày 19 tháng 2 tại nhà thờ Trái Tim Chúa Giêsu thuộc giáo xứ Santa Maria Josefa, ĐGH đã nói rằng “Quả thật, Thiên Chúa là Cha đầy lòng thương xót, còn các con, các con có lòng thương xót không, có thương những người làm khốn cho các con hay những người không yêu các con không?

“Nếu Thiên Chúa có lòng thương xót, là Đấng Thánh, là Đấng toàn thiện thì chúng ta cũng phải có lòng thương xót, phải nên thánh và phải toàn thiện như Ngài. Những ai bắt chước Chúa và làm như vậy thì sẽ được phong thánh, họ trở thành thánh. Cuộc đời của người tín hữu thật đơn giản như thế.”

Bước theo con đường nên thánh, chúng ta không thể cứ ôm mãi sự giận hờn hay muốn trả thù người khác. Chính Chúa đã nói “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những người giết hại anh em”.

“Cầu nguyện cho kẻ làm khốn cho mình ư?” ĐGH nói “Vâng, bởi vì việc ấy làm thay đổi đời sống.”

Nếu chúng ta nghĩ là không thể làm được thì hãy cầu nguyện. Cầu nguyện để xin ơn biết tha thứ và yêu thương.

Lời trong Kinh Thánh là “ Hãy nên thánh, vì Ta Thiên Chúa của các con là Đấng Thánh” và rằng “Hãy nên hoàn thiện như Cha các con ở trên trời là Đấng Toàn Thiện.”

Tha thứ và cầu nguyện là con đường chúng ta cần theo đuổi. Đây là con đường nên thánh. Nếu mọi người trên thế gian này đều học biết điều này thì sẽ không còn chiến tranh.

Chiến tranh bắt đầu “trong cay đắng, hận thù, khát vọng trả thù, bắt người khác phải đền trả. Nhưng mà nó làm tang hoang gia đình, đổ vỡ tình bằng hữu, phá hủy tình lối xóm, hủy hoại nhiều thứ lắm…

Đối với ĐGH thì đó là lý do chúng ta phải luôn cầu nguyện để xin ơn đừng ôm giữ lòng thù hận, biết cầu nguyện cho kẻ thù, biết cầu nguyện cho những người không yêu chúng ta, biết xin ơn hòa bình.

Nếu chúng ta cầu nguyện mỗi ngày, ngay cả chỉ một lời cầu xin mỗi ngày cho kẻ thù của mình thôi, thì chúng ta sẽ “chiến thắng” và tiến bước trên con đường nên thánh và nên hoàn thiện.

Và cuối cùng thì “tốt lành vượt thắng gian tà, lòng đại lượng sẽ chiến thắng tội lỗi.”

Cầu nguyện là thuốc giải độc chống lại lòng hận thù, chống lại chiến tranh thường phát sinh từ ngay trong gia đình, trong khu xóm và giữa các gia đình.

ĐGH nói rằng nếu ngài biết có ai muốn làm hại ngài và không thích ngài thì chính ngài sẽ cầu nguyện đặc biệt cho họ. Xin hãy cầu nguyện để có hòa bình.

Giuse Thẩm Nguyễn

Tin Giáo Hội Việt Nam
Thiện nguyện yêu thương cho đồng bào dân tộc
Thành Nhu21/02/2017
Thiện nguyện yêu thương cho đồng bào dân tộc (đợt 2)

Sau chuyến hành trình “Thiện nguyện yêu thương” vào những ngày giáp tết Nguyên Đán, anh em Dòng Thánh Tâm chúng tôi cùng với đại gia đình chị Hường, chị Phương lại tiếp tục lên đường đến với đồng bào dân tộc trên dãy trường sơn hùng vĩ để cùng sẻ chia và trao ban những yêu thương.

Xem Hình

Hành trình lần này bắt đầu từ ngày 13 – 15/2/2017, đoàn chúng tôi sẽ đi đến các giáo xứ Đăk Tuk, Ling La (Tên cũ là Kon Dũ), De Sơmei, Hà Bầu Lệ Chí và Kon Mahar thuộc giáo phận Kon Tum.

Tại tỉnh Kon Tum

Xuất phát lúc 9g30 ngày 13/2 tại thành phố Đà Nẵng, chúng tôi đã vượt hàng trăm km trên đường trường sơn, đến huyện Đắk Glei, tỉnh Kontum, đoàn đã dừng chân và ăn trưa tại Cộng đoàn các Soeurs Phao Lô.

Đến với giáo xứ Đăk Tuk gần đó, chúng tôi phải đi vong con đường hình chữ U. Ngồi trong xe, Cha xứ Đăk Tuk Antôn Vũ Đình Long đã kể cho chúng tôi về những khó khăn của bà con giáo dân nơi vùng đất cằn cỗi, nhất là sự thiếu thốn về nơi thờ tự tâm linh khi ngôi nhà nguyện của giáo xứ từ lâu đang phải mượn tạm nhà dân.

Tại đây đoàn đã trao 200 phần quà cho bà con gồm thịt, cá khô, mì tôm, dầu ăn, nước mắm, bánh kẹo. Đại diện một em học sinh của giáo xứ đã nói lên những lời cảm ơn bằng tiếng Kinh và cùng với bà con hát vang bài ca chia tay đoàn bằng tiếng Bahnar sau đó.

Chia tay giáo xứ Đăk Tuk, chúng tôi lại lên đường đến với giáo xứ Linh La. Tại đây, bà con đã tập trung về tại nhà thờ giáo xứ từ rất sớm, chúng tôi đã khẩn trương trao 200 phần quà tại đây, sau đó dùng cơm tối tại nhà xứ do Cha GB. Nguyễn Minh Hoàng khoản đãi.

Giáo xứ có hai dãy nhà nội trú dành riêng cho các em học sinh nam nữ, tổng cộng có 42 em cả nam và nữ được Cha Hoàng nuôi ăn, ở miễn phí với mong muốn chắp thêm những ước mơ sau này cho các em. Cộng tác với cha để dạy đỗ các em còn có các Soeurs Dòng MTG Thủ Thiêm và Thầy giúp xứ.

Chúng tôi đã nghỉ đêm tại đây và cùng hiệp dâng Thánh Lễ với cộng đoàn giáo xứ lúc 5g15 sáng ngày 14/2.

Tại tỉnh Gia Lai

Chúng tôi đến giáo xứ Lệ Chí khi anh chị em trong ca đoàn của giáo xứ đang tất bật đón bà con từ các Làng xung quanh tụ về tại gia đình anh Hiếu.

Đến tại gia đình anh Hiếu, đoàn chúng tôi đã được bà con 16 Làng của các giáo xứ Hà Bầu, Kon Gan, De Smei và Lệ Chí đón chào bằng những nụ cười, đặc biệt là vũ điệu cồng chiêng Tây Nguyên xua đi những mệt mỏi của đường dài...

Sau đó đoàn và các anh chị em trong ca đoàn Lệ Chí đã phục vụ 300 tô cháo cùng với những đĩa lòng luộc và chai rượu những chai rượu gạo thơm nồng cho bà con.

Sau khi ăn cháo xong, chúng tôi đã trao 215 phần quà cho bà con, khoảng 2/3 trong số các phần quà này có thêm gạo, vì có nhiều cụ già neo đơn vùng này không trồng được lúa.

Bà con ở xa nhất cũng cách hơn 14 km, họ chở nhau trên 13 chiếc xe công nông, những người ở gần thì chở nhau bằng xe máy hay đi bộ.

Làng Lệ Chí hầu hết là những người dân Xứ Quảng (Quảng Nam) di dân vào, vì thế chiều tối cùng ngày anh chị em trong ca đoàn Lệ Chí đã khoản đãi đoàn một bữa cơm nhiều món, cùng với một đêm ca nhạc “Hát cho nhau nghe”.

Sau khi nghỉ đêm tại nhà Chú Trực, sáng ngày 15/2, đoàn cùng với Chú Trực, anh chị em trong ca đoàn Lệ Chí vượt qua quảng đường gần 53 km để đến với giáo xứ Kon Mahar, nơi Cha Giuse Nguyễn Duy Tài đang quản nhiệm.

Đến giáo xứ, lập tức chúng tôi được cha xứ và bà con chào rước bằng vũ điệu cồng chiêng, các em thiếu nhi thì vỗ tay với ánh mắt tròn xoe đầy lạ lẫm. Sau đó chúng tôi cùng hiệp dâng Thánh Lễ với giáo xứ bằng tiếng Bahnar.

Kết thúc Thánh Lễ, đoàn đã trao 1000 gói kẹo cho các em thiếu nhi, 300 phần quà có thêm gạo và khoảng 200 chiếc áo ấm mới cho bà con. Sau đó các anh chị trong ca đoàn Lệ Chí cùng với chúng tôi đã chiêu đãi 1.500 trẻ em và các cụ già bữa ăn trưa bằng mỳ cua, mỳ Quảng được chan nước hầm xương và thịt do đoàn chúng tôi đem lên từ Lệ Chí.

Sau khi dùng cơm trưa tại giáo xứ, đoàn được giao lưu với bà con bằng những vũ điệu cồng chiêng, được thưởng thức rượu cần giao lưu văn nghệ.

Dân làng đã tập hợp rất đông như một ngày hội, các tiết mục nhảy đặc sắc của các em thiếu nhi, hay các tiết mục hóa trang đơn sơ của các bà mẹ nơi đây đã cho chúng tôi thấy được tình liên đới, hiệp thông của những người cùng chung niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô.

Sau buổi văn nghệ, chúng tôi đã chia tay Cha xứ và giáo xứ trong sự quyến luyến của dân làng, họ bắt tay, ôm chúng tôi như những người thân quen ruột thịt.

Trước khi trở về, chúng tôi lên đường đến với Đức Mẹ Măng Đen. Trong bóng đêm, nhìn lên đôi bàn tay không nguyên vẹn của Mẹ, làm chúng tôi liên tưởng đến những đôi bàn tay gầy gò và không nguyên vẹn của một số bệnh nhân phong mà chúng tôi gặp gỡ qua hai cuộc hành trình đến với bà con trên vùng đất Gialai Kontum.

Có lẽ mọi người cũng có những niềm riêng sau khi thân thưa cùng Mẹ, nên trong rất nhiều những chia sẽ, đoàn chúng tôi nghe chị Phương nói với cha Giuse Phan Tấn Hồ như sau: “Thưa Cha, nếu không có lòng yêu mến thì khó mà đi làm từ thiện cha hỉ. Nếu không có lòng yêu mến thì người ta sẻ nhanh nản lắm Cha ơi”!

Thành Nhu
Video: Ca Đoàn St Patrick, Gx Croydon Gây Quỹ Từ Thiện ''Bát Cơm cho Biển Hồ''
Vietcatholic Adelaide21/02/2017
Đêm Văn Nghệ Gây Quỹ Bát Cơn Tình Thương Cho Biển Hồ

DO CA ĐOÀN SAINT PATRICK, THUỘC GIÁO XỨ CROYDON PARK - NAM ÚC TỔ CHỨC.

Phát xuất từ tinh thần bác ái Kitô Giáo và cũng là niềm ước mong mang lại một chút niềm vui và an ủi cho những mảnh đời cơ cực, đầy dẫy khổ đau của những đồng hương Việt Nam đang sống ở Biển Hồ, ca đoàn Saint Patrick thuộc giáo xứ Công Giáo Croydon Park, đã tổ chức Đêm Văn Nghệ “ Bát Cơm Tình Thương Cho Biển Hồ” vào lúc 6g30 ngày Thứ Bảy 18/02/2017 tại hội trường Trung Tâm sinh hoạt của Cộng Đồng Người Việt Tự Do / Nam Úc.

Đây là sinh hoạt thứ 3 trong dự án chương trình gây quỹ từ thiện mang tên "Bát Cơm Tình Thương cho Biển Hồ" sau Đêm Nhạc Sống & Karaoke Dạ Vũ (3/12/2016) và Gian hàng Hội chợ Tết Đinh Dậu ( 4&5/2/2017).

Trên 400 khách đã đến với Đêm Văn Nghệ Tri Ân trong một buổi chiều đẹp trời, nắng ấm để thưởng thức chương trình văn nghệ mang chủ đề yêu thương vào dịp cuối tuần và cũng để hỗ trợ cho chương trình mang ý nghĩa đặc biệt này. Nhiều khách mời tham dự là các thân hào nhân sĩ trong cộng đồng người Việt tự do tại Nam Úc, quý thành viên trong Ban Điều Hành Cộng Đồng Người Việt Tự Do Nam Úc, các Hội đoàn, đoàn thể, các tổ chức, và đông đảo quý đồng hương tại Nam Úc.

Mở đầu là lời chào mừng và trình bày ý nghĩa của chương trình từ thiện gây quỹ giúp đồng hương VN tại Biển Hồ cùng với lời tri ân của anh ca đoàn trưởng Võ quốc Sỹ, cũng là trưởng BTC, với những tâm tình gửi đến quý vị quan khách và quý đồng hương hiện diện.

Chương trình văn nghệ được nối tiếp nhau qua những tiết mục đựợc ban tổ chức chọn lọc kỹ lưỡng gồm các thể loại như hợp ca, đơn ca, ảo thuật và hoạt cảnh v.v…. Mọi người đã có những giờ phút thư giản với những bản nhạc vui, sôi động, xen kẽ với giây phút lắng đọng hòa với những bài ca gợi lại những nết hùng tráng như nhạc khúc bài “ Bên Em Đang Có Ta” được ca đoàn Hy Vọng trình bày và bài “ Lênh đênh Biển Hồ” hay qua hoạt cảnh “ Bát Cơm Tình Thương Cho Biển Hồ” do ca đoàn Saint Patrick trình diễn cùng với những bài ca mang ý nghĩa yêu thương do nhiều ca nghệ sĩ, nói lên lòng hảo tâm, nghĩa đồng bào ….. qua nội dung chương trình, đã có những giờ phút thổn thức lòng người khi có dịp nhìn lại những hình ảnh tang thương, tơi tả của những mảnh đời bất hạnh, chìm nổi theo sóng nước, trông nhờ vào tấm lòng nhân ái của những đoàn từ thiện hay những gói qùa cứu trợ của những người hảo tâm …

Trong đêm văn nghệ BTC cũng đã có phần bán đấu giá và xổ số các tặng vật do các nhà tài trợ, các nhà hảo tâm ủng hộ để gây thêm quỹ cho chương trình. Cũng ngay trong đêm văn nghệ gấy quỹ BTC đã báo cáo công khai tài chánh và mọi người đã vui mừng vỗ tay khi BTC công bố tổng số tiền quyên góp được trong suốt dự án đã lên đến trên $53,000.00 (năm mươi ba ngàn Úc kim).

Tất cả số tiền này sẽ được một số anh chị em, đại diện cho ca đoàn, sẽ tự lo chi phí, trở lại Biển Hồ dự định vào tháng 7/2017, để trao tận tay cho đồng bào món qùa quý gía mà đồng hương Nam Úc đã rộng tay đóng góp.

Đêm văn nghệ đã kết thúc với bài “Đêm Nguyện Cầu” xin cho thanh bình thật sự sớm trở về với dân tộc và quê hương Việt Nam.

Sự thành công tốt đẹp của đêm văn nghệ nói riêng và toàn bộ chương trình từ thiện nói chung sẽ không có được nếu không có sự hỗ trợ từ Cha Maurice, chánh xứ Giáo xứ Croydon Park, từ những tấm lòng quảng đại của các nhà tài trợ, nhà hảo tâm, các mạnh thường quân và đông đảo quý đồng hương. Ca đoàn cũng không quên sự đóng góp âm thầm của các ca viên và gia đình, thành viên trong ca đoàn và sự nhiệt tình của rất nhiều người thiện nguyện đã chung tay góp sức trong cả 3 dự án, góp phần hỗ trợ chương treình gây quỹ để có được thành qủa tốt đẹp này.

Ban tổ chức xin chân thành cảm ơn những tấm lòng vàng của những người hảo tâm và những người thiện nguyện chỉ biết âm thầm cống hiến mà không mong cầu phải đền đáp thật là một nghĩa cử thật cao vời.

Vietcatholic-Adelaide
Phụng Vụ - Mục Vụ
Suy Niệm Chúa Nhật VIII Thường Niên – Năm A
Lm. Anthony Trung Thành21/02/2017
Suy Niệm Chúa Nhật VIII Thường Niên – Năm A

Cuộc sống là một lựa chọn. Có những lựa chọn thông thường hằng ngày. Nhưng cũng có những lựa chọn quan trọng liên quan đến cả đời người. Vì thế, khi lựa chọn, nhất là đối với những lựa chọn quan trọng, cần phải tự mình phân định để biết cái nào tốt, cái nào xấu, cái nào tốt cái nào tốt hơn. Tự mình phân định vẫn chưa đủ, cần phải hỏi ý kiến của những người khôn ngoan để chính họ giúp chúng ta có cái nhìn khách quan về những điều chúng ta lựa chọn. Trên bình diện tôn giáo, người Kitô hữu chọn Chúa. Chọn Chúa nên phải từ bỏ những gì không thuộc về Chúa, chống đối Chúa, ngăn cản chúng ta đến với Chúa.

Chọn Chúa nên phải từ bỏ tiền của. Đoạn Tin mừng hôm nay mời gọi chúng ta chọn Chúa thì phải từ bỏ tiền của. Bởi vì, “không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia; hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ kia. Các con không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền của được” (Mt 6,24). Tự bản chất, tiền của là tốt, là hồng ân Chúa ban. Sử dụng đúng, tiền của mang lại cho con người nhiều lợi ích: nuôi sống bản thân, gia đình, làm việc bác ái, giúp việc công ích…Nhưng tiền của sẽ xấu nếu như con người coi nó như ông chủ: thu tích tiền của mà không biết chia sẻ (x. Lc 12,16-21), có tiền của mà không giúp anh em đang trong hoàn cảnh túng thiếu như dụ ngôn nhà phú hộ và ông Lazarô (x. Lc 16,19-21); coi tiền của hơn Chúa như Giuđa bán Chúa với giá 30 đồng bạc (x. Mt 26,14-15)…Thánh Phaolô tông đồ cũng nói: “Lòng ham tiền của là cội rễ mọi điều ác” (1Tm 6,10).

Chọn Chúa thì phải tin tưởng vào sự quan phòng của Ngài. Vì Ngài là người cha nhân lành, không bao giờ quên chúng ta là con cái của Ngài. Tiên tri Isaia trong bài đọc I cho chúng ta biết: “Nào người mẹ có thể quên con mình mà không thương xót chính đứa con mình đã cưu mang ư? Cho dù người mẹ đó có quên, nhưng Ta sẽ không quên ngươi đâu”(Is 49,15).

Tin tưởng vào sự quan phòng của Chúa thì không lo lắng gì. Đức Giêsu dạy: “Các con chớ áy náy lo lắng mà nói rằng: chúng ta sẽ ăn gì, uống gì hoặc sẽ lấy gì mà mặc… Cha trên trời biết rõ chúng con cần những sự đó”(Mt 6,31-32). Không lo lắng vì “Nào có ai trong các con lo lắng áy náy mà có thể làm cho mình cao thêm một gang được ư?”(Mt 6,27). Đức Giêsu đã đưa ra hai hình ảnh để thuyết phục chúng ta. Hình ảnh thứ nhất là chim trời: “Hãy nhìn xem chim trời, chúng không gieo, không gặt, không thu vào lẫm, thế mà Cha các con trên trời vẫn nuôi chúng”(Mt 6,26). Hình ảnh thứ hai là hoa huệ: “Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng, coi chúng mọc lên thế nào? Chúng không làm lụng, không canh cửi. Nhưng Thầy nói với các con rằng: Ngay cả Salomon trong tất cả vinh quang của ông, cũng không phục sức được bằng một trong những đoá hoa đó”(Mt 6, 28-29). Nếu Thiên Chúa đã quan tâm đến chim trời, hoa đồng cỏ nội một cách chu đáo như thế, thì đối với con người chắc chắn Chúa quan tâm một cách đặc biệt hơn vì con người đáng giá hơn con chim sẻ bội phần và vì con người là hình ảnh của Thiên Chúa.

Không lo lắng gì không có nghĩa là cứ sống trong thụ động theo kiểu “há miệng chờ sung.” Nhưng phải biết cộng tác với Chúa tùy theo khả năng và ơn gọi của mình. Nghĩa là chúng ta phải biết lo liệu. Phải biết làm việc. Đức Giêsu đã làm việc, Ngài nói: “Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc”(Ga 5,17). Tin mừng cho chúng ta thấy, Thiên Chúa đã thưởng công cho kẻ siêng năng làm việc và lên án kẻ lười biếng không chịu làm việc qua dụ ngôn những nén bạc (x. Mt 25,14-30). Thánh Phaolô cũng đã siêng năng làm việc, Ngài “đêm ngày làm lụng vất vả để khỏi thêm gánh nặng cho người khác” (x. 2Tx 3, 8), Ngài nói: “Ai không làm thì đứng có ăn” (2Tx 3,10). Tục ngữ Việt Nam cũng có câu: “Có làm thì mới có ăn, không dưng ai dễ đem phần đến cho.” Vì thế, phải làm việc để có của nuôi sống mình và phục vụ tha nhân. Nhưng phải làm việc trong niềm tin tưởng vào Chúa chứ không phải chỉ cậy dựa vào sức mình.

Tin tưởng vào Chúa thì phải luôn gắn bó với Ngài. Gắn bó với Chúa trong đời sống cầu nguyện. Vì thế, sáng vừa thức dậy, hãy dâng tất cả mọi công việc mình làm trong ngày cho Chúa, xin Chúa giúp đỡ. Mặt khác, để những công việc của chúng ta không những mưu ích cho phần xác mà còn mưu ích cho phần hồn, khi làm việc, thỉnh thoảng dừng lại để cầu nguyện với Chúa bằng những lời cầu nguyện vắn tắt, chẳng hạn như: “Lạy Chúa xin giúp con làm tốt công việc này.” Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã nói rằng:“ Hoạt động mà không cầu nguyện là vô ích trước mặt Chúa. Máy móc tự động có thể làm tốt hơn ta” (x. Số 117 Đường Hy Vọng). Cho nên, phải liên kết giữa làm việc và cầu nguyện. Cầu nguyện để hỏi ý Chúa. Cầu nguyện để phó thác công việc mình làm cho Chúa.

Tin tưởng vào Chúa thì phải lo tìm kiếm Nước Trời. Bởi vì, con người có hai phần hồn xác. Tìm kiếm của ăn phần xác là cần nhưng của ăn phần hồn còn cần thiết hơn. Đức Giêsu nói: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, còn mọi sự khác, Người sẽ ban cho”(Mt 6,33). Tìm kiếm Nước Trời bằng việc cầu nguyện, suy niệm và sống Lời Chúa, lãnh nhận các Bí tích, sống bác ái yêu thương. Tìm kiếm Nước Trời bằng cách lo chu toàn bổn phận của mình trong hiện tại. Bởi vì, quá khứ của chúng ta đã qua không thể làm cho nó quay trở lại được. Còn tương lai thì chưa đến và có thể không đến với chúng ta. Đức Giêsu đã nói: “Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (Mt 6,34).

Tóm lại, cuộc sống là một lựa chọn. Mỗi người sẽ chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của mình. Lựa chọn sai sẽ dẫn đến bất hạnh. Lựa chọn đúng sẽ đem lại hạnh phúc. Chính vì thế, có những người đã phải sa Hỏa Ngục, vì suốt cuộc đời này họ đã lựa chọn sai: chọn ma quỷ, thế gian, xác thịt. Ngược lại, có những người đã được lên Thiên Đàng vì suốt cuộc đời này họ đã chọn đúng: chọn Chúa và những gì thuộc về Chúa.

Ước gì mỗi người chúng ta biết chọn Chúa, chọn những gì thuộc về Chúa để chúng ta có Chúa ở đời này và đặc biệt là được hưởng mặt Chúa nhãn tiền ở đời sau. Amen.

Lm. Anthony Trung Thành
Ưu tiên tìm kiếm Nước trời
Lm Giuse Nguyễn Hữu An21/02/2017
Chúa nhật 8 Thường niên A

Ưu tiên tìm kiếm Nước trời

Sứ điệp Mùa Chay năm nay, Đức Thánh Cha Phanxicô suy niệm câu chuyện Phúc âm ‘ ông nhà giàu và Lazarô’: “Chúng ta hãy để câu chuyện đầy ý nghĩa này gợi hứng cho chúng ta, vì nó cho chúng ta chiếc chìa khóa để hiểu chúng ta cần phải làm gì để có được hạnh phúc thật và được sống đời đời. Dụ ngôn ấy khuyên chúng ta thành tâm hoán cải”.

Thánh Tông đồ Phaolô nói với chúng ta rằng “lòng ham mê tiền bạc là cội rễ sinh ra mọi điều ác” (1 Tim 6,10). Đây là nguyên nhân chính của sự đồi bại và là nguồn gốc của ghen tị, xung đột và nghi ngờ. Đồng tiền có thể đi đến thống trị chúng ta, đến mức trở thành một thần tượng độc tài (x. Evangelii Gaudium, 55). Thay vì là một công cụ giúp chúng ta làm điều thiện và bày tỏ tình liên đới với người khác, tiền bạc lại có thể trói buộc chúng ta và cả thế giới vào một thứ luận lý ích kỷ chẳng còn chỗ cho tình yêu và cản trở hoà bình…

Đối với những kẻ bị thói ham mê của cải làm cho sa đọa, ngoài cái tôi của họ ra, chẳng có gì tồn tại. Những người xung quanh họ ở ngoài tầm mắt của họ. Hậu quả của việc gắn bó với tiền bạc là một thứ mù lòa. Người giàu có không nhìn thấy người nghèo, người đói khát, người bị thương, người nằm ở cửa nhà mình. Nhìn vào nhân vật này, chúng ta có thể hiểu tại sao Phúc Âm quyết liệt lên án thói ham mê tiền bạc: “Không ai có thể làm tôi hai chủ: hoặc ghét chủ này và yêu chủ kia, hoặc gắn bó với chủ này và khinh chê chủ nọ. Các con không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền bạc được” (Mt 6,24). (Sứ điệp số 2).

Sức mạnh của tiền bạc thật là khủng khiếp. Chúa Giêsu so sánh nó như một ông chủ có khả năng cạnh tranh với chính Thiên Chúa: "Không ai có thể làm tôi hai chủ... Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được" (Lc 16, 13). Việc tôn thờ tiền bạc không xứng hợp với việc phụng sự Thiên Chúa vì “Kho tàng của anh ở đâu thì lòng trí anh ở đó”.

Trang Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dạy: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được”. Lời dạy của Chúa Giêsu thật hợp lý. Nếu chúng ta chọn Thiên Chúa, mặc nhiên, Thiên Chúa là chủ của mình, còn chúng ta chọn tiền của, thì mặc nhiên tiền của là chủ của chúng ta. Thiên Chúa là sự sống vĩnh cửu, còn tiền bạc chỉ là phù vân tạm bợ. Phải lựa chọn một trong hai. Không được bắt cá hai tay. Tiền bạc luôn luôn là ông chủ xấu nhưng có thể là một người tôi tớ tốt. Nhưng bằng cách nào ta có thể bắt nó làm tôi tớ mình được?

1. Giáo huấn của Chúa Giêsu đối với tiền của.

Chúa Giêsu không phi bác tiền của, không phê phán sự giàu sang, cũng không bác bỏ người giàu. Ngài chỉ nhắc nhở thái độ phải có đối với tiền của và cảnh cáo, phê phán những người giàu trong việc sử dụng tiền của.

Tiền của tự nó không xấu. Xấu hay tốt là tuỳ ở nhận thức, thái độ và cách sử dụng của con người. Chúa Giêsu lên án sự ham mê tiền của, coi đó như tất cả cuộc sống, đến nỗi dành hết sức lực, thời gian, trí tuệ để cố chiếm hữu thật nhiều; thậm chí bán rẻ cả lương tri, phẩm giá con người. Tiền của trở thành thần tượng và chiếm chỗ độc tôn trong lòng người. Ngài kết án những người vì đồng tiền mà sống bất công, lừa thầy phản bạn, coi thường mạng sống và danh phẩm người khác. Ngài còn phê phán chỉ trích những người giàu sang chỉ biết cậy dựa vào tiền bạc và sống ích kỷ hưởng thụ.
Tiền của là phương tiện tốt nếu được dùng để làm điều thiện, giúp đỡ người thiếu thốn, phục vụ khoa học vì những mục đích tốt. Chỉ có cách đó mới làm cho người ta không làm tôi của cải. Lòng tham lam, việc tích trữ của cải là mối nguy hiểm lớn cản trở con đường tìm kiếm Nước Trời và đưa ta xa rời Thiên Chúa. Người thanh niên giàu có được mời gọi bán tất cả của cải tài sản để đi theo Chúa đã buồn rầu bỏ đi vì anh ta có nhiều của cải. Chúa Giêsu đã cảnh tỉnh: “Người giàu có vào Nước Trời còn khó hơn lạc đà chui qua lỗ kim”. Vì thế không lạ gì thái độ cương quyết của Chúa Giêsu là đòi hỏi một chọn lựa dứt khoát: “Không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của”.

Chúa Giêsu luôn đứng về phía người nghèo và bênh vực kẻ cô thế. Ngài sinh ra và lớn lên trong cảnh nghèo. Ngài chọn các môn đệ giữa số những người nghèo. Ngài hằng quan tâm, yêu thương vỗ về những người nghèo và tuyên bố mối phúc đầu trong bát phúc: “Phúc cho những người nghèo khó vì Nước Trời là của họ” (Lc 6,20; Mt 5,3). Yêu người nghèo, nhưng Chúa Giêsu không hề kết án người giàu và tẩy chay sự giàu có. Ngài ân cần tiếp đón và đối thoại với người giàu, sẵn sàng đến dùng bữa với họ khi được mời; Ngài để cho những phụ nữ giàu có đi theo giúp đỡ trong hành trình sứ vụ. Tuy nhiên, Ngài nặng lời chỉ trích những người giàu chỉ biết bám víu vào tiền của, sống ích kỷ hưởng thụ bỏ mặc người nghèo đói cơ cực (x. Lc 16,19-31), làm giàu cách bất lương, ỷ vào tiền của mà khinh dễ kẻ khác.

2. Ưu tiên tìm kiếm Nước Trời

"Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đời sống công chính như Người đòi hỏi".

Ưu tiên hàng đầu của người môn đệ Chúa Giêsu là Nước Thiên Chúa. Mọi sự khác cũng cần thiết nhưng không được đặt lên trên Nước Thiên Chúa. Phải dành ưu tiên cho Nước Thiên Chúa, rồi mới đến các thứ khác. Đây là vấn đề giá trị khi chọn lựa. Thế gian thường lấy của cải vật chất làm ưu tiên số một và cho rằng của cải giàu sang sẽ giải quyết được mọi vấn đề của xã hội và của con người. Con cái Chúa thì sẵn sàng từ bỏ tất cả để tìm kiếm Chúa và phụng sự một mình Chúa. Có Chúa là có tất cả; khi không còn gì nhưng còn có Chúa là còn tất cả vì Ngài là lẽ sống. Khi đã chọn Chúa, ắt sẽ biết sử dụng tiền của và tất cả những gì Chúa ban để phụng sự Ngài và Giáo Hội qua việc phục vụ anh em đồng loại. Sống theo ưu tiên đó, người Kitô hữu sẽ không nô lệ vật chất, sẽ không bán rẻ lương tâm vì tiền của, sẽ coi trọng con người hơn của cải và đặt các giá trị luân lý đạo đức lên trên các giá trị vật chất. Sống theo ưu tiên của Nước Thiên Chúa, người Kitô hữu sẽ giữ được sự tự do thanh thoát và bình an ngay giữa những nhiệm vụ nặng nề nhất, vì họ biết có Chúa yêu thương cùng lo cho họ và với họ, và chỉ có Ngài mới đem lại cho họ niềm hạnh phúc đích thực mà họ hằng mong ước.

3. Tin tưởng vào ơn Quan Phòng của Thiên Chúa

Đấng Tạo Hóa ân cần chăm lo cho các loài thụ tạo đã được khẳng định trong nhiều bản văn Thánh kinh. Chúa Giêsu dùng ba ví dụ rất nên thơ gợi cảm nói về sự quan phòng. Chim trời không gieo, không gặt nhưng chúng vẫn được Cha trên trời nuôi sống; cuộc đời của mỗi người có một quảng thời gian nhất định sống ở trần gian này, điều đó ta không thay đổi được, dù có lo lắng cũng chẳng kéo dài đời mình thêm một vài gang tấc; hoa huệ ngoài đồng không làm lụng, không kéo sợi, thế mà dù vua Salomon vinh hoa tột bậc cũng không mặc đẹp bằng nó. Kết luận của ba ví dụ là: nếu như Thiên Chúa quan tâm nuôi sống chim trời và ban áo mặc cho hoa đồng cỏ nội, thì lẽ nào Chúa lại không lo lắng cho con người hơn gấp bội sao? Kết thúc bài giảng, Chúa Giêsu tuyên bố: “Vậy đừng quá lo lắng về ngày mai. Ngày mai cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày đó“. Tin cậy vào Thiên Chúa, chúng ta sẽ được hưởng những quan tâm của Cha trên trời.

Thiên Chúa ban cho con người của cải vật chất để sống, thăng tiến, phát triển và phục vụ tha nhân. Giá trị tiền của hệ tại con người biết sử dụng cách đúng đắn như phương tiện phục vụ anh em để đạt tới Nước Trời là hạnh phúc đích thực.

Xã hội càng phát triển thì sẽ có những người làm ăn giỏi và giàu lên. Họ phải đóng góp phúc lợi cộng đồng nhiều hơn. Những người làm giàu bằng con đường lương thiện, chân chính không có gì đáng phải chê bai hay công kích họ, đôi khi còn phải cảm phục ý chí, tài năng của họ. Nhất là khi họ không phải là quan chức (xã hội càng bất ổn các quan càng dễ làm giàu) mà họ làm giàu được trong thời buổi kinh tế suy thoái, với xã hội nhiễu nhương, bất ổn này thì càng đáng nể hơn. Và nếu họ minh bạch hóa được sự giàu có của mình thì cả xã hội sẽ “tâm phục, khẩu phục” tài năng của họ, thật sự kính trọng họ.

Thánh Phaolô khuyên nhủ: “Những người giàu, anh hãy truyền cho họ đừng tự cao tự đại, đừng đặt hy vọng vào của cải phù vân, nhưng vào Thiên Chúa, Đấng cung cấp dồi dào mọi sự cho chúng ta hưởng dùng. Họ phải làm việc thiện và trở nên giàu có về các việc tốt lành, phải ăn ở rộng rãi, sẵn sàng chia sẻ” (1Tm 6,17-18).
Tiền của chỉ là việc nhỏ sánh với việc lớn là Nước Trời. Tiền của giàu sang nơi trần gian chỉ là tạm bợ, không thể tạo hạnh phúc đích thực cho con người; ngược lại nó làm con người vong thân khi bị nó chiếm hữu, và lúc ấy nó sẽ là chủ nhân ông và con người sẽ biến thành tôi tớ. Vậy nếu ở đời này, con người biết sử dụng tiền của tạm bợ cách tốt đẹp, họ sẽ được trao phó của cải vĩnh cửu trên trời.

Tiền của có thể trở thành phương tiện giúp đạt tới đích là Nước Trời, nhưng cũng có nguy cơ đẩy người ta ra xa Chúa để tìm kiếm những sự thuộc thế gian. Do đó, điều quan trọng là phải biết sử dụng tiền của như phương thế đạt Nước Trời. Chúa Giêsu muốn các môn đệ phải chọn lựa dứt khoát, không có thái độ lưng chừng hoặc bắt cá hai tay. Người bắt cá hai tay bao giờ cũng là kẻ thua thiệt nhất.
Lạy Chúa, xin cho con biết chọn Chúa là đối tượng duy nhất của lòng trí con. Amen.

Tài Liệu - Sưu Khảo
Giải đáp phụng vụ: Câu “Giáo Hội như là bí tích” được hiểu thế nào?
Nguyễn Trọng Đa21/02/2017
Giải đáp phụng vụ: Câu “Giáo Hội như là bí tích” được hiểu thế nào?

Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.

Hỏi: Tại sao Giáo Hội Công Giáo là một bí tích? - A. A., Wiaga, Ghana.


Đáp: Đây quả là một thách thức và gần như đòi hỏi một bài tiểu luận. Tuy nhiên, tôi sẽ cố gắng để nói gọn gàng và súc tích.

Khi nói về chủ đề này, hầu hết mọi người đều tham khảo Công đồng chung Vatican II. Văn kiện của Công đồng về phụng vụ, Sacrosanctum Concilium, nói trong số 5 như sau:

"Công cuộc cứu chuộc nhân loại và tôn vinh Thiên Chúa cách hoàn bị như thế đã được tiên báo trong dân Cựu Ước, qua những kỳ công vĩ đại của Chúa nay lại được Chúa Kitô hoàn tất, nhất là nhờ mầu nhiệm phục sinh của cuộc Khổ Nạn hồng phúc, việc Sống Lại từ cõi chết và Lên Trời vinh hiển của Người. Nhờ đó "Người đã chết để tiêu diệt sự chết cho chúng ta và sống lại để tái lập sự sống". Vì chính từ cạnh sườn Chúa Kitô chịu chết trên thập giá, đã phát sinh bí tích nhiệm lạ là Giáo Hội" (Bản dịch Việt ngữ của Phân khoa Thần học, Giáo Hoàng Học viện thánh Piô X, Đà Lạt).

Trong Hiến chế tín lý về Giáo Hội, Lumen Gentium, của Công đồng chung Vatican II, ý tưởng này được củng cố trong số 9:

"Thiên Chúa triệu tập tất cả những người tin kính và mong đợi Chúa Kitô, Ðấng ban ơn cứu độ và hiệp nhất, nguyên lý của sự hòa bình; Ngài thiết lập họ thành Giáo Hội để Giáo Hội trở nên bí tích hữu hình của sự hiệp nhất cứu độ ấy cho toàn thể và cho mỗi người. Với bổn phận phải lan rộng khắp thế giới, Giáo Hội đi sâu vào lịch sử nhân loại. Tuy nhiên Giáo Hội đồng thời cũng vượt thời gian và biên giới các dân tộc" (Bản dịch, như trên).

Sau đó, trong số 48, Giáo Hội được qui chiếu một cách rõ ràng như là “bí tích phổ quát của ơn cứu độ".

Tuy nhiên, sẽ là một sai lầm khi nghĩ rằng ý tưởng của Giáo Hội như là bí tích chỉ xuất hiện trong đầu thập niên 1960. Kinh Thánh đã mô tả mầu nhiệm (đôi khi đồng nghĩa trong thực tế với từ ngữ Latinh Sacramentum, hoặc bí tích) của Giáo Hội khi nói rằng "Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao" (1 Cr 3:16); và rằng sự hiện diện của Thiên Chúa được biểu lộ trong Giáo Hội (Lc 12:32; Mc 4: 26-29). Mầu nhiệm của thân thể Chúa Kitô (1Cr 12: 1 và tiếp theo) được biểu lộ rõ ràng qua các hình ảnh như đàn chiên, cây nho, lâu đài, đền thờ, hiền thê.

Các Giáo Phụ cũng mô tả thực tế này với các lối nói có ý nghĩa. Sách Didache (được viết giữa năm 90 và năm 120) nói về "mầu nhiệm vũ trụ của Giáo Hội", thánh Xyprianô (qua đời năm 258) gọi Giáo Hội là "mầu nhiệm lớn của ơn cứu độ", và thánh Âutinh (354-430) nói đến Giáo Hội như là “bí tích kỳ diệu sinh ra từ cạnh sườn Chúa Kitô", như được trích dẫn ở trên trong văn kiện Sacrosanctum Concilium, số 5.

Trong phụng vụ, chúng ta tìm thấy nhiều thí dụ. Một lời nguyện, được một số người gán cho Ðức Giáo Hoàng Lêô Cả (390-461) và được tìm thấy trong bản thảo Gelasia từ năm 750, gọi Giáo Hội là bí tích tuyệt vời, mà qua đó công cuộc cứu chuộc được tiếp tục, và thế giới được phục hồi trở về với định mệnh đầu tiên của mình. Nói cách khác Giáo Hội, như một thụ tạo mới của Chúa Kitô, phải là bí tích hướng dẫn thế giới trở về với kế hoạch ban đầu của Thiên Chúa.

Với sự ra đời của thần học Kinh viện, khái niệm Giáo Hội như là bí tích bị mờ khuất trong một thời gian, mặc dù ý tưởng đã dần dần hồi phục trong các thế kỷ XIX và XX. Chủ đề được thảo luận rộng rãi trong các thập kỷ trước Công đồng chung Vatican II bởi một số nhà thần học lớn.

Sách Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo, trong một cách tóm lược các suy tư ban đầu, đã bàn đến khái niệm trong nhiểu đoạn văn, nhưng đặc biệt là trong số 774-776 liên quan đến Giáo Hội như là bí tích phổ quát của ơn cứu độ:

"774. Tiếng La tinh dùng hai từ Mysterium (mầu nhiệm) và Sacramentum (bí tích) để dịch từ Mysterion của Hi lạp. Về sau, người ta phân biệt thuật ngữ Sacramentum (bí tích) để diễn tả dấu chỉ hữu hình của ơn cứu độ thuật ngữ Mysterium (mầu nhiệm) diễn tả ơn cứu độ ẩn giấu dưới dấu chỉ hữu hình đó. Theo nghĩa này, chính Ðức Kitô là mầu nhiệm cứu độ: mầu nhiệm Thiên Chúa không có gì khác hơn là chính Ðức Kitô (T. Âutinh thư 187, l1, 34). Công trình cứu độ của nhân tính thánh thiên và có sức thánh hóa của Ðức Kitô là bí tích cứu độ được tỏ lộ và tác động trong các bí tích của Giáo Hội (mà các Giáo Hội Ðông Phương gọi là các "mầu nhiệm thánh"). Bảy bí tích là những dấu chỉ và những khí cụ Chúa Thánh Thần dùng để ban tràn đầy ân sủng của Ðức Kitô là Ðầu, cho Giáo Hội là Thân Thể. Như thế, Giáo Hội chứa đựng và thông ban ân sủng vô hình mà Giáo Hội là dấu chỉ. Chính trong nghĩa loại suy này mà Giáo Hội được gọi là "bí tích".

"775. "Trong Ðức Kitô, Giáo Hội là bí tích, nghĩa là dấu chỉ và khí cụ của sự kết hiệp mật thiết giữa con người với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại" (LG 8). Mục đích đầu tiên của Giáo Hội là trở thành bí tích của sự kết hiệp mật thiết con người với Thiên Chúa. Vì sự hiệp thông giữa con người với nhau bắt nguồn từ sự kết hiệp với Thiên Chúa, nên Giáo Hội cũng là bí tích hiệp nhất của nhân loại. Trong Giáo Hội, sự hiệp nhất đó đã bắt đầu, vì Giáo Hội qui tụ những người "thuộc mọi quốc gia, mọi chủng tộc, mọi dân tộc, mọi ngôn ngữ" (Kh 7, 9); đồng thời, Giáo Hội là "dấu chỉ và khí cụ" thực hiện trọn vẹn sự hiệp nhất còn phải đạt đến.

"776. Vì là bí tích, Giáo Hội cũng là khí cụ của Ðức Kitô. "Chúa Kitô dùng Giáo Hội như khí cụ để cứu chuộc mọi người" (x. LG 9), như "bí tích phổ quát của ơn cứu độ" (x. LG 48), nhờ đó Ðức Kitô "bày tỏ và thực hiện mầu nhiệm Thiên Chúa yêu thương con người" (x. GS 45, 1). Giáo Hội là "dự phóng hữu hình của tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại" (ĐTC Phao1ô VI, diễn từ ngày 22-6-1973). Thiên Chúa muốn cho "tất cả loài người họp thành một Dân duy nhất của Thiên Chúa, quy tụ trong Thân Thể duy nhất của Ðức Kitô, xây dựng thành một đền thờ duy nhất của Thánh Thần" (AG 7; LG 17)” (Bản dịch Việt ngữ của Ban Giáo lý Tổng Giáo phận Sài Gòn).

Vì vậy, như Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo cho biết, khái niệm Giáo Hội như bí tích là loại suy, và không có nghĩa rằng Giáo Hội là bí tích thứ tám.

Việc xem Giáo Hội như một bí tích giúp chúng ta có sự nắm bắt bảy bí tích rõ ràng hơn trong trong khuôn khổ của chính Giáo Hội. Chúng ta có thể thấy rõ hơn làm thế nào các ảnh hưởng của sự tham dự bí tích vượt quá mối quan hệ của cá nhân với Thiên Chúa, và làm gia tăng sự thánh thiện của toàn thể Giáo Hội.

Khái niệm này cũng làm sáng tỏ các châm ngôn cổ điển như "Giáo Hội làm nên Thánh Thể, và Thánh Thể làm nên Giáo Hội". Thánh Thể, trong một cách thức là toàn bộ đời sống bí tích và phụng vụ của Giáo Hội, tham gia trong một sự tương tác liên tục. Hành động cứu độ nển tảng của Chúa Kitô đến với các cá nhân thông qua Giáo Hội và các bí tích của Giáo Hội, và đồng thời việc cá nhân ôm trọn hành động cứu độ này thánh hóa và xây dựng Giáo Hội.

Linh đạo này, vốn có thể phái sinh từ việc đồng hóa sự hiệp thông cơ bản này trong Chúa Kitô, được chia sẻ bởi tất cả các thành viên của Giáo Hội và - bởi vì Giáo Hội cũng là bí tích cho thế giới - với mỗi một con người, có thể dẫn chúng ta hiểu rằng mọi việc lành mà chúng ta làm, và cả các việc kém tích cực hơn của chúng ta, có các tác động vượt quá khu vực trực tiếp của chúng ta, và không chỉ mở rộng từ "khi mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn", nhưng còn có thể đến tận chính thiên đàng, thông qua sự hiệp thông của các thánh nữa. (Zenit.org 21-2-2017)

Nguyễn Trọng Đa