Đức Gioan Phaolô II suy gẫm về Kinh đọc cuối Ngày
VATICAN (Zenit.orhg).- Toàn văn bài huấn đức của Đức Gioan Phaolô II trong buổi triều yết chung Thứ Tư 8/10, qua loạt bài giáo lý Kinh Sáng trong các lần trước, lần này Ðức Giáo Hoàng bắt đầu loạt bài giáo lý về Kinh Chiều.
* * *
1. Biết rằng "mỗi ngày hành hương của chúng ta trên mặt đất luôn luôn là một ân huệ mới" do tình yêu của Thiên Chúa (Kinh Tiền tụng các Chúa nhật, VI), Giáo hội đã luôn luôn cảm thấy nhu cầu dâng hiến những ngày và giờ của sự sống nhân loại để ngợi khen Chúa. Do đó bình minh và hoàng hôn, là những thời gian có tính tôn giáo điển hình cho mọi người, đã được coi là thánh thiêng bởi truyền thống Kinh Thánh, sáng và chiều dâng lễ sát tế (x.Xh 29:38-39) và hương (x. Xh 30:6-8), (bình minh và hoàng hôn) được các Kitô hữu từ các thế kỷ đầu xem như là hai thời gian đặc biệt để cầu nguyện.
Lúc mặt trời mọc và lặn là những thời điểm đặc biệt trong ngày. Chúng có một đặc điểm là không thể nhầm lẫn được. Vẻ đẹp vui tươi của bình minh và sự sáng chói lộng lẫy buổi hoàng hôn đánh dấu nhịp điệu vũ trụ, sự sống con người hoà nhập sâu xa vào đó. Hơn nữa mầu nhiệm cứu độ diễn ra trong lịch sử, có những lúc liên kết với những giai đọan khác biệt của thời gian. Do đó cùng với việc cử hành kinh sáng lúc ngày mới bắt đầu, Giáo hội bắt đầu cử hành kinh chiều khi chiều xuống. Cả hai giờ phụng vụ có nội dung gợi cảm nhắc nhớ hai phương diện thiết yếu của mầu nhiệm vượt qua: "Buổi chiều Chúa treo trên Thánh giá, buổi sáng Chúa phục sinh... Buổi chiều tôi thuật lại những đau khổ Chúa chịu khi chết; buổi ban mai tôi loan báo sự sống phát sinh nơi Người" (St.Augustine, "Esposizioni sui Salmi" [Giải thích các Thánh vịnh], XXVI, Rome, 1971, page 109).
Chính vì chúng liên kết qua việc kỷ niệm sự chết và phục sinh của Chúa Kitô, hai giờ kinh sáng và chiều tạo thành, "hai nền tảng của Kinh Nhật tụng theo truyền thống đáng kính của toàn thể Giáo hội, " (hiến chế "Sacrosanctum Concilium," No.98).
2. Thời xưa lúc mặt trời lặn, việc thắp một cây đèn dầu mang lại cho gia đình một niềm vui mừng và hiệp thông. Cộng đồng Kitô hữu cũng thắp một cây dèn lúc chiều tà, và với một tinh thần biết ơn, cầu xin ân huệ sự sáng thiêng liêng. Đó là điều được gọi là "lucernario," nghĩa là nghi thức thắp đèn mà ngọn đèn là biểu trưng Chúa Kitô, "mặt trời không bao giờ lặn."
Khi sự tối tăm đến, những người Kitô hữu biết rằng, trên thực tế, Thiên Chúa soi sáng cả đêm tối với ánh sáng sự hiện diện của Người và với sự sáng của các huấn giáo của Người, Trong hoàn cảnh này thật đáng nhớ lại thánh thi sự sáng rất xưa, "Fos hilaron," được đưa vào phụng vụ Armenia và Ethiopian Byzantine: "Ôi lạy Chúa Giêsu, sự sáng đầy vui mừng thuộc vinh quang thánh của Cha chí thánh bất tử, ngự trên trời cao và thánh thiện! Khi tới lúc mặt trời lặn và thấy ánh đèn ban chiều, chúng ta hát những bài thánh thi dâng lên Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Điều thích hợp là ca hát mừng Chúa mọi lúc với những giọng ca du dương, Ôi lạy Con Thiên Chúa, Đấng ban cho chúng con sự sống: vì điều này mà vũ trụ cao rao vinh quang Chúa." Phương Tây cũng đã sáng tác nhiều thánh thi để ngợi khen Chúa Kitô sự sáng.
Kín múc nguồn linh hứng từ sự biểu trưng của sự sáng, kinh chiều được khai thác như là một lễ tế ban chiều để ngợi khen và cảm tạ vì ân huệ sự sáng tự nhiên và thiêng liêng và vì những ân huệ khác của sự sáng tạo và cứu độ, Thánh Cyprien viết: "Cuối ngày khi mặt trời lặn cần phải cầu nguyện lần nữa. Trên thực tế, vì Chúa Kitô là mặt trời thật, lúc mặt trời lặn và ngày tàn trên thế gian này, chúng ta cầu nguyện và xin cho ánh sáng lại chiếu sáng trên chúng ta và chúng ta cầu xin Chúa Kitô đến, Người sẽ dẫn chúng ta tới ân sủng sự sáng đời đời" ("De oratione dominica," 35: PL 4, 560)
3. Buổi chiều là một thời gian thuận tiện để nghĩ tới, trong kinh nguyện trước mặt Chúa, ngày đã kết thúc. Đây là thời gian "cảm tạ vì những gì đã được ban cho và về những gì chúng ta đã làm đúng" ( St Basil, "Regulae fusius tractatae," Rep. 37,3 :PG 3; 1015). Đó cũng là thời gian để xin tha thứ về sự dữ chúng ta đã làm, kêu xin lòng thương xót Chúa cho Chúa Kitô chiếu sáng lại trong tâm hồn chúng ta.
Dầu sao, chiều đến cũng gợi lên "mầu nhiệm đêm tối." Sự tăm tối được coi như là dịp của những cơn dám dỗ thường xảy ra, nhất là của sự yếu hèn, của sự nhân nhượng các cuộc tấn công của sự dữ. Với sự ngấm ngầm của nó, đêm tối là biểu tượng của tất cả sự dữ mà Chúa Kitô đến để giải thoát chúng ta. Hơn nữa khi đêm về, sự cầu nguyện làm cho chúng ta tham gia vào mầu nhiệm phục sinh, trong đó "đêm tối sáng như ban ngày" (Exsultet). Như vậy sự cầu nguyện làm cho niềm hy vọng phát triển trong sự đi qua từ ngày ngắn ngủi tới "dies pernnis-ngày đời đời," từ ánh sáng mỏng manh của ngọn đèn tới "lux pertpetua-ánh sáng muôn đời," từ đêm vọng bình minh cho tới lúc gặp gỡ Vua vinh hiển muôn đời.
4. Đối với người xưa và đối với chúng ta còn hơn thế nữa, sự tiếp tục của đêm và ngày điều chỉnh sự sống, bắt phải suy nghỉ về các vấn đề lớn của sự sống. Sự phát triển hiện nay đã thay đổi một phần tương quan giữa sự sống con người và thời gian vũ trụ. Nhưng nhịp điệu hùng mạnh của những sinh hoạt con người chưa hoàn toàn đưa người ngày nay ra khỏi những nhịp điệu chu kỳ mặt trời.
Cho nên hai điểm tựa của sự cầu nguyện hằng ngày vẫn giữ tất cả giá trị của nó, vì liên kết với những hiện tượng bất biến và những biểu trưng trực tiếp. Buổi mai và chiều là những lúc luôn luôn thuận lợi dành để cầu nguyện, hoặc trong cộng đồng hay một mình. Được liên kết với những thời gian quan trọng thuộc sự sống và hành động của chúng ta, những giờ kinh sáng và chiều, như vậy, được coi như là những phương tiện hiệu nghiệm để hướng con đường hằng ngày chúng ta và dẫn nó tới Chúa Kitô, "sư sáng thế gian" (Ga 8:123).
Cuối buổi triều yết, Đức Thánh Cha nói tóm bằng tiếng Anh:
Anh chị em thân mến,
Buổi sáng và buổi chiều luôn luôn là những thời gian tốt nhất để trở lại với Chúa trong sự cầu nguyện, cùng đọc chung với người khác hay đọc riêng tư. Kinh chiều đặc biệt nhắc cho chúng ta rằng dầu sự tối tăm ban đêm cũng được chiếu sáng do sự hiện diện và tình yêu của Chúa. Kinh nguyện cuối ngày của chúng ta làm chúng ta tràn trề sự ao ước và hy vọng cho ngày tràn đầy hứa hẹn không bao giờ chấm dứt, vì Chúa Kitô là sự sáng thế gian.
Tôi vui mừng gởi lời chào cách riêng hôm nay đến các thầy ứng sinh phó tế từ Học Việc Giáo Hoàng Bắc Mỹ và các thành viên gia đình của họ. Trên tất cả những người hành hương nói tiếng Anh, nhất là những người đến từ England, Scotland, Ireland, Nigeria, Indonesia, Taiwan, Korea và Hoa Kỳ, xin ánh sáng Chúa Kitô luôn luôn chiếu sáng trong đời sống quý anh chị em.
VATICAN (Zenit.orhg).- Toàn văn bài huấn đức của Đức Gioan Phaolô II trong buổi triều yết chung Thứ Tư 8/10, qua loạt bài giáo lý Kinh Sáng trong các lần trước, lần này Ðức Giáo Hoàng bắt đầu loạt bài giáo lý về Kinh Chiều.
* * *
1. Biết rằng "mỗi ngày hành hương của chúng ta trên mặt đất luôn luôn là một ân huệ mới" do tình yêu của Thiên Chúa (Kinh Tiền tụng các Chúa nhật, VI), Giáo hội đã luôn luôn cảm thấy nhu cầu dâng hiến những ngày và giờ của sự sống nhân loại để ngợi khen Chúa. Do đó bình minh và hoàng hôn, là những thời gian có tính tôn giáo điển hình cho mọi người, đã được coi là thánh thiêng bởi truyền thống Kinh Thánh, sáng và chiều dâng lễ sát tế (x.Xh 29:38-39) và hương (x. Xh 30:6-8), (bình minh và hoàng hôn) được các Kitô hữu từ các thế kỷ đầu xem như là hai thời gian đặc biệt để cầu nguyện.
Lúc mặt trời mọc và lặn là những thời điểm đặc biệt trong ngày. Chúng có một đặc điểm là không thể nhầm lẫn được. Vẻ đẹp vui tươi của bình minh và sự sáng chói lộng lẫy buổi hoàng hôn đánh dấu nhịp điệu vũ trụ, sự sống con người hoà nhập sâu xa vào đó. Hơn nữa mầu nhiệm cứu độ diễn ra trong lịch sử, có những lúc liên kết với những giai đọan khác biệt của thời gian. Do đó cùng với việc cử hành kinh sáng lúc ngày mới bắt đầu, Giáo hội bắt đầu cử hành kinh chiều khi chiều xuống. Cả hai giờ phụng vụ có nội dung gợi cảm nhắc nhớ hai phương diện thiết yếu của mầu nhiệm vượt qua: "Buổi chiều Chúa treo trên Thánh giá, buổi sáng Chúa phục sinh... Buổi chiều tôi thuật lại những đau khổ Chúa chịu khi chết; buổi ban mai tôi loan báo sự sống phát sinh nơi Người" (St.Augustine, "Esposizioni sui Salmi" [Giải thích các Thánh vịnh], XXVI, Rome, 1971, page 109). Chính vì chúng liên kết qua việc kỷ niệm sự chết và phục sinh của Chúa Kitô, hai giờ kinh sáng và chiều tạo thành, "hai nền tảng của Kinh Nhật tụng theo truyền thống đáng kính của toàn thể Giáo hội, " (hiến chế "Sacrosanctum Concilium," No.98).
2. Thời xưa lúc mặt trời lặn, việc thắp một cây đèn dầu mang lại cho gia đình một niềm vui mừng và hiệp thông. Cộng đồng Kitô hữu cũng thắp một cây dèn lúc chiều tà, và với một tinh thần biết ơn, cầu xin ân huệ sự sáng thiêng liêng. Đó là điều được gọi là "lucernario," nghĩa là nghi thức thắp đèn mà ngọn đèn là biểu trưng Chúa Kitô, "mặt trời không bao giờ lặn."
Khi sự tối tăm đến, những người Kitô hữu biết rằng, trên thực tế, Thiên Chúa soi sáng cả đêm tối với ánh sáng sự hiện diện của Người và với sự sáng của các huấn giáo của Người, Trong hoàn cảnh này thật đáng nhớ lại thánh thi sự sáng rất xưa, "Fos hilaron," được đưa vào phụng vụ Armenia và Ethiopian Byzantine: "Ôi lạy Chúa Giêsu, sự sáng đầy vui mừng thuộc vinh quang thánh của Cha chí thánh bất tử, ngự trên trời cao và thánh thiện! Khi tới lúc mặt trời lặn và thấy ánh đèn ban chiều, chúng ta hát những bài thánh thi dâng lên Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Điều thích hợp là ca hát mừng Chúa mọi lúc với những giọng ca du dương, Ôi lạy Con Thiên Chúa, Đấng ban cho chúng con sự sống: vì điều này mà vũ trụ cao rao vinh quang Chúa." Phương Tây cũng đã sáng tác nhiều thánh thi để ngợi khen Chúa Kitô sự sáng.
Kín múc nguồn linh hứng từ sự biểu trưng của sự sáng, kinh chiều được khai thác như là một lễ tế ban chiều để ngợi khen và cảm tạ vì ân huệ sự sáng tự nhiên và thiêng liêng và vì những ân huệ khác của sự sáng tạo và cứu độ, Thánh Cyprien viết: "Cuối ngày khi mặt trời lặn cần phải cầu nguyện lần nữa. Trên thực tế, vì Chúa Kitô là mặt trời thật, lúc mặt trời lặn và ngày tàn trên thế gian này, chúng ta cầu nguyện và xin cho ánh sáng lại chiếu sáng trên chúng ta và chúng ta cầu xin Chúa Kitô đến, Người sẽ dẫn chúng ta tới ân sủng sự sáng đời đời" ("De oratione dominica," 35: PL 4, 560)
3. Buổi chiều là một thời gian thuận tiện để nghĩ tới, trong kinh nguyện trước mặt Chúa, ngày đã kết thúc. Đây là thời gian "cảm tạ vì những gì đã được ban cho và về những gì chúng ta đã làm đúng" ( St Basil, "Regulae fusius tractatae," Rep. 37,3 :PG 3; 1015). Đó cũng là thời gian để xin tha thứ về sự dữ chúng ta đã làm, kêu xin lòng thương xót Chúa cho Chúa Kitô chiếu sáng lại trong tâm hồn chúng ta.
Dầu sao, chiều đến cũng gợi lên "mầu nhiệm đêm tối." Sự tăm tối được coi như là dịp của những cơn dám dỗ thường xảy ra, nhất là của sự yếu hèn, của sự nhân nhượng các cuộc tấn công của sự dữ. Với sự ngấm ngầm của nó, đêm tối là biểu tượng của tất cả sự dữ mà Chúa Kitô đến để giải thoát chúng ta. Hơn nữa khi đêm về, sự cầu nguyện làm cho chúng ta tham gia vào mầu nhiệm phục sinh, trong đó "đêm tối sáng như ban ngày" (Exsultet). Như vậy sự cầu nguyện làm cho niềm hy vọng phát triển trong sự đi qua từ ngày ngắn ngủi tới "dies pernnis-ngày đời đời," từ ánh sáng mỏng manh của ngọn đèn tới "lux pertpetua-ánh sáng muôn đời," từ đêm vọng bình minh cho tới lúc gặp gỡ Vua vinh hiển muôn đời.
4. Đối với người xưa và đối với chúng ta còn hơn thế nữa, sự tiếp tục của đêm và ngày điều chỉnh sự sống, bắt phải suy nghỉ về các vấn đề lớn của sự sống. Sự phát triển hiện nay đã thay đổi một phần tương quan giữa sự sống con người và thời gian vũ trụ. Nhưng nhịp điệu hùng mạnh của những sinh hoạt con người chưa hoàn toàn đưa người ngày nay ra khỏi những nhịp điệu chu kỳ mặt trời.
Cho nên hai điểm tựa của sự cầu nguyện hằng ngày vẫn giữ tất cả giá trị của nó, vì liên kết với những hiện tượng bất biến và những biểu trưng trực tiếp. Buổi mai và chiều là những lúc luôn luôn thuận lợi dành để cầu nguyện, hoặc trong cộng đồng hay một mình. Được liên kết với những thời gian quan trọng thuộc sự sống và hành động của chúng ta, những giờ kinh sáng và chiều, như vậy, được coi như là những phương tiện hiệu nghiệm để hướng con đường hằng ngày chúng ta và dẫn nó tới Chúa Kitô, "sư sáng thế gian" (Ga 8:123). Cuối buổi triều yết, Đức Thánh Cha nói tóm bằng tiếng Anh:
Anh chị em thân mến,
Buổi sáng và buổi chiều luôn luôn là những thời gian tốt nhất để trở lại với Chúa trong sự cầu nguyện, cùng đọc chung với người khác hay đọc riêng tư. Kinh chiều đặc biệt nhắc cho chúng ta rằng dầu sự tối tăm ban đêm cũng được chiếu sáng do sự hiện diện và tình yêu của Chúa. Kinh nguyện cuối ngày của chúng ta làm chúng ta tràn trề sự ao ước và hy vọng cho ngày tràn đầy hứa hẹn không bao giờ chấm dứt, vì Chúa Kitô là sự sáng thế gian.
Tôi vui mừng gởi lời chào cách riêng hôm nay đến các thầy ứng sinh phó tế từ Học Việc Giáo Hoàng Bắc Mỹ và các thành viên gia đình của họ. Trên tất cả những người hành hương nói tiếng Anh, nhất là những người đến từ England, Scotland, Ireland, Nigeria, Indonesia, Taiwan, Korea và Hoa Kỳ, xin ánh sáng Chúa Kitô luôn luôn chiếu sáng trong đời sống quý anh chị em.