Chúa là nơi ẩn náu của con người.
VATICAN(Zenit.org).- Toàn văn bài huấn đức của Đức Gioan Phaolo II trong buổi triều yết chung hôm thứ Tư 12/11, mà Ngài dành để suy niệm về Thánh Vịnh 141 (142)
* * *
1. Trong buổi chiều ngày 3/10/1226, Thánh Phanxicô Assisi qua đời. Lời nguyện cuối cùng của Ngài nói một cách chính xác là đọc Thánh Vịnh 141 [142], như chúng ta vừa mới nghe đọc. Thánh Bonavenrura nhắc lại rằng thánh Phanxicô " lớn tiếng cầu nguyện với Thánh Vịnh: 'Tôi lớn tiếng kêu gào lên Chúa, tôi lớn tiếng cầu khẩn Chúa thương' và Ngài đọc cho tới câu cuối: "Bao kẻ Lành xúm lại mừng con, vì con đã được Ngài thi ân giáng phúc' " ("Legenda Maggiore" [Bài đọc lớn hơn], XIV,5, in: Franciscan Sources, Padua-Assisi, 1980,tr.958).

Thánh Vịnh là một lời cầu xin hùng mạnh, rải rác với một loạt những động từ chỉ sự cấu xin dâng lên Chúa: "Tôi kêu [.. . ]," "Tôi cầu khẩn Chúa," "Tôi giãi bày lời than vãn của tôi, tôi kể lể nỗi ngặt nghèo của tôi" (cc 2-3). Phần trung tâm Thánh Vịnh chú trọng tới sự tin tưởng nơi Chúa, Người không thờ ơ với sự đau khổ của người tín hữu. (x.cc 4-8). Với thái độ này, Thánh Phanxicô đã giáp mặt với sư chết.
. Thiên Chúa được nói tới với tiếng "you" thân mật, như một người ban cho sự yên ổn: "Chính Ngài là nơi con trú ẩn" (c.6). "Chính Chúa am tường mọi nẻo con đi," nghĩa là chặng đường của đời sống con, một chặng đường đánh dấu bằng sư lựa chọn đức công chính. Nhưng, trên nẻo đường này, kẻ dữ đã gài bẩy (x.c.4): Đó là môt hình ảnh điển hình phỏng theo một cuộc săn bắn, và thường đặt trong những lời cầu xin của các Thánh Vịnh, để chỉ những nguy hiểm và những cạm bẩy mà nguời công chính phải chịu.
Trước cơn ác mộng này, tác giả Thánh Vịnh gào thét một dấu báo động xin Chúa nhìn đến hoàn cảnh của ông và can thiệp: "Con nhìn sang bên tay hữu con" (c.5). Theo tập quán phương Đông, tay hữu của một người là kẻ bênh vực mình hay là chứng nhân ủng hộ mình nơi tòa án, hay là, trong trường hợp chiến tranh, người bảo vệ mình. Lúc đó người tín hữu cô đơn và bị bỏ rơi, "không bạn bè ở đó." Do đó, ông bày tỏ một sự kiện thống khổ "Không chỗ nào cho con lánh nạn; có ai buồn nghĩ tới mạng con đâu." (c,5) 3. Liền sau đó, một tiếng kêu bày tỏ niềm hy vọng ở trong con tim nguời cầu nguyện. Trong một hoàn cảnh như thế, sự bảo vệ duy nhất và tình bạn hiệu nghiệm là ở nơi Chúa "Chính Ngài là nơi con trú ẩn, là phần của riêng con, trong cõi đất dành cho kẻ sống" (c.6). Trong ngôn ngữ Kinh Thánh,, tiếng "lot-phần" hay "portion-cõi" là quà tặng Đất Thánh, dấu chỉ tình yêu của Chúa trong những cảnh thăng trầm của dân Người. Bây giờ Chúa là nền tảng cuối cùng và duy nhất trên đó xây dựng chính mình, là sự có thể duy nhất của sự sống, là niềm hy vọng tuyệt đỉnh.
Tác giả Thánh Vịnh kiên định kêu cầu Chúa cách khăng khăng, bởi vì ông "thật cùng khốn" (c.7). Ông xin Chúa can thiệp để bẽ gãy những xiềng xích ngục tù cô đơn và thù địch của mình (x. c,8) và đưa ông ra khỏi vực thẩm cơn thử thách.
4. Cũng như trong những Thánh Vịnh kêu xin khác, màng cuối cùng là tạ ơn, dâng lên Chúa sau khi được Chúa nhâm lời: "Xin đưa con ra khỏi chốn ngục tù, để con cảm tạ danh thánh Chúa" (ibid.).Khi được cứu thoát, người tín hữu sẽ đi cảm tạ Chúa trong cộng đồng phụng vụ (ibid.) Ông được người Lành xúm lại mừng, là những kẻ xem sự cứu thoát của người anh em mình như là một quà tặng ban cho chính mình.
Bầu khí này cũng thấm nhiễm những cử hành Kitô hữu. Sự đau đớn của từng cá nhân cũng gặp tiếng vang trong con tim của tất cả mọi người, cũng như niềm vui của mỗi người sẽ được cả công đồng cầu nguyện sống. Trên thực tế, "ngọt ngào tốt đẹp lắm thay, anh em được sống vui vầy bên nhau" (Tv 132; 133]:1) và Chúa Giêsu nói :"Vì ở đâu có hai ba người hợp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy giữa họ" (Mt 18: 20). 5. Truyền thống Kitô hữu áp dụng Thánh vinh 141 (142) cho Chúa Kitô đau khổ và bị bắt bớ. Trong viễn ảnh này, mục đích sáng chói của lời cầu trong Thánh Vịnh biến đổi thành một dấu phục sinh, dựa trên hậu quả vinh quang của sự sống Chúa Kitô và của vận mạng phục sinh chúng ta với Người. Điều đó được thánh Hilary thành Potiers khẳng định, Ngài là tiến sĩ thời danh của Giáo hội trong thế kỷ thứ tư, trong "Luận án những bài Thánh Vịnh" của Ngài.
Thánh nhân bình luận về bản dịch Latin câu cuối cùng trong Thánh Vịnh, câu đó nói về phần thưởng dành cho người cầu nguyện và về sự chờ đợi sống cùng những kẻ công chính: "Me expectant justi, donec retribuas mihi.--Những người công chính chờ đợi con, cho đến khi Chúa hoàn lại cho con." Thánh Hilary giải thích: "Thánh Tông đồ chỉ cho chúng ta thấy phần thưởng Chúa Cha đã ban cho Chúa Kitô: 'Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Chúa Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: Đức Giêsu Kitô là Chúa" (Phil. 2: 9-11).Đây là phần thưởng: vinh quang đời đời của Chúa Cha đươc ban tặng cho thân xác đã lên trời.
"Bấy giờ điều gì là sự chờ đợi của người công chính, thì cũng thánh Tông đồ dạy khi Ngài nói: 'Còn chúng ta, quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta, Người sẽ biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người' (Phil 3: 20-21). Trên thực tế, những người công chính đợi Chúa thưởng họ, làm cho họ nên giống thân xác vinh quang của Người, Đấng được chúc phúc muôn đời. Amen". (PL,9, 833-837).
Cuối buổi triều yết;Đúc Thánh Cha nói tóm bằng tiếng Anh:
Anh chị em thân mến,
Thánh Vịnh chúng ta vừa nghe là kinh nguyện cuối cùng thánh Phanxico Assisi đọc trong đêm người qua đời vào năm 1226. Đó là một lời cầu xin hùng mạnh dâng lên Chúa, là nơi trú ẩn vững chắc cho những ai đặt tin tương nơi Người. Cộng đồng người công chính ngợi khen Chúa vì Người ban cho ơn cứu rỗi. Truyền thống Kitô hữu thấy Thánh Vịnh này là một sự qui chiếu về Chúa Kitô bị ngược đãi và đau khổ, sự phục sinh của Người đã trở nên nền tảng và mục đích của niềm hy vọng chúng ta, ân ban sự sống đời đời trong vinh quang Chúa chúng ta muôn đời.
Hôm nay tôi xin chào cách riêng những người trong Ðại Học Quân Sự NATO đến tham dự: Ước chi anh em luôn luôn được tăng cường trong sư cam kết của anh em là xây dựng hòa bình và gia tăng sự ổn định trong thế giới. Trên tất cả những khách hành hương nói tiếng Anh hiện diện, cách riêng những người đến từ England, Malawi và Hoa Kỳ, tôi cầu xin ân sủng và hoà bình của Chúa Giêsu.