Phỏng vấn Tổng Trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin.
VATICAN (Zenit.org ).- Đức Hồng Y Joseph Ratzinger nói sự hiệp thông giáo hội không thể qui về môt quan niệm xã hội học.
Tổng Trưởng Bộ Giáo lý Đức tin đã trả lời cuộc phỏng vấn cho tờ báo Ý “Gia Đình Kitô” (Famiglia Cristiana), Ngài nói rằng phải hiểu ý nghĩa thần học của sự hiệp thông này, hầu hiểu được tương quan giữa các Giáo hội địa phương và Tòa Thánh, và đánh giá tính tập đoàn của Giáo hội và vai trò các hồi đồng giám mục.
Trong cuộc phỏng vấn, đức hồng y đề cập tới môt số vấn đề cơ bản trong quyển sách mới của ngài "Sự Hiệp thông trong Giáo hội" ("La Communione nella Chiesa"}, do nhà xuất bản St Paul tại Ý phát hành.
Sự hiệp thông trong Giáo hội là gì, thưa Đức Hồng Y Tổng Trưởng?
HY Ratzinger: Trong Thư thứ nhất của thánh Gioan chúng ta gặp một định nghĩa nêu lên quan điểm đầy đủ của sự hiệp thông.
Thánh Gioan nói rằng điều đã được ban cho chúng ta với đức tin, với hữu thể Kitô hữu, trên hết tất cả là sự hiệp thông với Thiên Chúa, với Thiên Chúa Ba Ngôi, tự mình là sự hiệp thông. Đó là vẻ đẹp mặc khải cống hiến cho chúng ta. Thiên Chúa là sự hiệp thông và do đó Người có thể ban sự hiệp thông.
Nhờ ở trong sự hiệp thông với Thiên Chúa, con người đi vào sự hiệp thông với những người khác sống trong cùng một sự hiệp thông. Ở đây những đường dọc và ngang gặp nhau và trở nên một thực tại.
Thiên Chúa Ba Ngôi, là sự hiệp thông, làm cho sự hiệp thông con người lớn hơn và sâu sắc hơn. Sự Hiệp thông với Chúa Kitô tạo nên mối dây liên lạc giữa Thiên Chúa và con người. Có thể nói sự hiệp thông này đã nhập thể trong bí tích Thánh Thể, nhờ đó mà chúng ta kết hiệp với thân mình Thiên Chúa.
Nhờ vậy mà Giáo hội được sinh ra: Đó là sự hiệp thông trong các sự hiệp thông, nghĩa là nó hiện hữu như một thực tại Thánh Thể.
Mỗi một cộng đồng Thánh Thể trong toàn bộ của nó là ở trong sự hiện diện của Chúa Kitô. Điều này đòi hỏi rằng một cộng dồng không được đặt đối nghịch với những cái khác nhân danh "Chúa Kitô của mình", bởi vì chỉ có một Chúa Kitô. Cho nên người ta có thể thấy tầm quan trọng là tất cả các Giáo hội chỉ là một Giáo hội, bởi vì Chúa Kitô là một.
Tôi nghĩ rằng, từ đầu, chính cơ chế của Giáo hội được hình thành bởi sự duy nhất và sự đa dạng. Như có thể thấy, sự hiệp thông của Giáo hội là một sự kiện thần học chớ không phải xã hội học. Bất cứ ai biến đổi quan niệm hiệp thông thành một quan niệm thuần túy xã hội học là mắc phải một sai lầm.
Nhưng thưa Đức Hồng Y sự hiệp thông này có những hậu quả xã hội không?
HY Ratzinger: Tôi phải khuếch trương vấn đề: không những nói về sự trau dồi những tương quan đúng đắn giữa Giáo triều Roma và các Giáo hội địa phương, mà còn hơn hết phải nói về sự nuôi dưỡng sự hiệp nhất và sự đa dạng tức là Giáo hội.
Những Giáo hội địa phương phải sống những chi tiết văn hóa và lịch sử của mình bằng cách hoà nhập chúng trong sự hiệp nhất của toàn bộ, cởi mở mình đón nhận sự đóng góp hiệu quả của những Giáo hội khác, đến nỗi không giáo hội nào sẽ đi một con đường mà các giáo hội khác không biết.
Giáo Triều Roma là giáo triều giúp Đức Thánh Cha trong việc phục vụ của ngài cho sự hiệp nhất, có nhiệm vụ cổ võ sự hiểu biết lẫn nhau giữa các Giáo hội địa phương đến nỗi những khác biệt trở thành một thực tại đa âm, trong đó sự hiệp nhất và sự đa dạng được sống.
Xin Đức Hồng Y giải thích về nguyên tắc phụ liên đới có tầm quan trọng gì trong tương quan giữa "trung tâm" và "ngoại biên," giữa Tòa Thánh và các Giáo hội địa phương khác ?
HY Ratzinger: Đó là một quan niệm có tính cách kỹ thuật cần một cuộc bàn thảo chi tiết hơn đễ định nghĩa ý nghĩa của nó.
Có thể chấp nhận nó theo nghĩa là việc chú ý tới sự hiệp nhất không được làm tắt đi những đoàn sủng của các Giáo hội địa phương; hơn nữa, phải khuyến khích các Giáo hội địa phương và đặt các Giáo hội địa phương phục vụ một Giáo hội duy nhất.
Một mặt trung tâm phục vụ của Giáo Triều Roma không can dự với điều mà có thể được làm tốt hơn một cách cụ thể nơi giáo hội địa phương; tuy nhiên một mặt khác các Giáo hội địa phương không nên sống một cách tự trị, nhưng tự mình hướng tới làm phong phú cho sự hiệp nhất bởi vì Chúa Kitô là một.
Xin đan cử một thí dụ thích hợp. Nếu có những hồ nghi về tính chính thống của một thần học gia, thì giáo hội địa phương nơi thần học gia ấy không nên can thiệp trước khi có sự can thiệp của bộ mà hồng y là chủ tịch có đúng không?
Cardinal Ratzinger: Ở đây trong Bộ Giáo Lý Đức Tin, chúng tôi vui mừng khi một giám mục hay hội đồng giám mục liên hệ xử lý những vấn đề thuộc loại này. Nhưng, thường thường các ngài nói với chúng tôi rằng đó là những vấn đề ngoài tầm giới hạn của Giáo hội địa phương, cho nên những vấn đề đó liên hệ với Giáo hội hoàn vũ, và muốn được giúp đỡ.
Như thế liệu có phải các Ngài đã gạt bỏ trách nhiệm của mình chăng?
HY Ratzinger: Không, tôi không dám nói điều gì như thế. Chúng tôi luôn luôn khuyến khich các giám mục giải quyết những vấn đề như vấn đề anh vừa nhắc tới. Nhưng trong một thế giới còn toàn cầu hóa hơn, điều này thật cực kỳ khó khăn.
Những phát triển nào đã có được trong tính tập đoàn giám mục từ Vatican II thưa Đức Hồng Y?
HY Ratzinger: Đã có phát triển nhiều. Tôi nghĩ tới sự phát triển những cuộc thăm viếng "ad limina". Tôi nhớ tới môt cuộc thăm viếng đầu tiên tôi đã thực hiện trong năm 1977. Lúc ấy tôi đang làm Tổng Giám Mục Munich chỉ một thời gian ngắn. Cuộc thăm viếng đó chung cuộc gồm có gặp mặt với chủ tịch Bộ Giám mục, viếng mộ 2 thánh PhaoLô và Phêrô Tông Đồ và triều yết với Đức Phaolô VI.
Bây giờ, các giám mục gặp mặt với tất cả các bộ và hội đồng và có một cuộc bàn thảo sống động và hữu ích. Và các giám mục biết ơn về điều này: Một mặt, những gì đang xảy ra trong những lãnh vực địa lý và văn hóa khác nhau có thể được am tường hơn; và mặt khác, các giám mục có thể cùng nhau đề cập những giải pháp cho các vấn đề mà và như thế sẽ hiểu rõ hơn điều gì huấn quyền nói.
Tôi xin đưa ra cho anh một ví dụ khác: những tiếp xúc thường xuyên của chúng tôi đối với Hội dồng giám mục cũng như những cuộc thăm viếng lẫn nhau. Như vậy càng ngày càng hiểu nhau hơn.
Hơn nữa, không nên quên những thượng hội đồng giám mục. Nghĩa là có môt sự trao đổi liên tục giữa trung tâm và bên ngoài hầu tăng cường sự dấn thân chung cho một Giáo hội.
Nhưng hội đồng giám mục không phải được đánh giá hơn như một phương tiện của tính tập đoàn hay sao?
HY Ratzinger: Tôi xin phân biệt giữa những hội đồng nhỏ với 10 hay 15 giám mục, và những hội đồng rộng lớn hơn có thể tới hơn 200 giám mục.
Trong trường hợp thứ nhất, hội đồng giám mục có thể thực sự là một dụng cụ của sự phối hợp, có một cái nhìn chung, giúp đỡ lẫn nhau và khi cần thiết sửa sai cho nhau nữa.
Trong trường hợp đối với những hội đồng lớn hơn, khi các cuội họp đối mặt với hàng chồng tập giấy cần phải đọc, với những chương trình làm việc trong ngày cần phải tranh luận cả hàng chục điểm, tôi thiết nghĩa là không thể có một sự đối thoại thâm sâu được. Cũng có cái nguy hiểm là những sự bàn luận và những giải quyết được các văn phòng thực hiện, do bộ máy quan liêu.
Trong trường hợp những hôi đồng rộng lớn, sự bàn cãi có lẽ bị hạn chế vào một số luận cứ liên hệ, phần còn lại được phân quyền cho các Giáo hội địa phương. Điều quan trọng là những hội đồng phải là một công cụ linh động.
Hồng y nhắc tới thượng hội đồng như một gương phát triển trong tính tập đoàn. Hồng y có thích phương pháp hiện nay của những cuộc hợp thượng hội đồng?
HY Ratzinger: Mặc dầu là một ý kiến hoàn toàn cá nhân, tôi muốn nói rằng đó là một phương pháp nặng phần nghi lễ. Nó bảo đảm một nhịp độ lanh lẹ hơn trong những khóa làm việc, nhưng nó có cái bất lợi là môt sự tranh cãi đích thực giữa các giám mục tham gia không thể thực hiện được.
Chắc chắn cần bảo tồn tốc độ làm việc. Nhưng cần phải có thời gian cho một cuộc tranh luận được thực tiễn và hữu ích.
VATICAN (Zenit.org ).- Đức Hồng Y Joseph Ratzinger nói sự hiệp thông giáo hội không thể qui về môt quan niệm xã hội học.
Tổng Trưởng Bộ Giáo lý Đức tin đã trả lời cuộc phỏng vấn cho tờ báo Ý “Gia Đình Kitô” (Famiglia Cristiana), Ngài nói rằng phải hiểu ý nghĩa thần học của sự hiệp thông này, hầu hiểu được tương quan giữa các Giáo hội địa phương và Tòa Thánh, và đánh giá tính tập đoàn của Giáo hội và vai trò các hồi đồng giám mục.
Trong cuộc phỏng vấn, đức hồng y đề cập tới môt số vấn đề cơ bản trong quyển sách mới của ngài "Sự Hiệp thông trong Giáo hội" ("La Communione nella Chiesa"}, do nhà xuất bản St Paul tại Ý phát hành.
Sự hiệp thông trong Giáo hội là gì, thưa Đức Hồng Y Tổng Trưởng?
HY Ratzinger: Trong Thư thứ nhất của thánh Gioan chúng ta gặp một định nghĩa nêu lên quan điểm đầy đủ của sự hiệp thông.
Thánh Gioan nói rằng điều đã được ban cho chúng ta với đức tin, với hữu thể Kitô hữu, trên hết tất cả là sự hiệp thông với Thiên Chúa, với Thiên Chúa Ba Ngôi, tự mình là sự hiệp thông. Đó là vẻ đẹp mặc khải cống hiến cho chúng ta. Thiên Chúa là sự hiệp thông và do đó Người có thể ban sự hiệp thông.
Nhờ ở trong sự hiệp thông với Thiên Chúa, con người đi vào sự hiệp thông với những người khác sống trong cùng một sự hiệp thông. Ở đây những đường dọc và ngang gặp nhau và trở nên một thực tại.
Thiên Chúa Ba Ngôi, là sự hiệp thông, làm cho sự hiệp thông con người lớn hơn và sâu sắc hơn. Sự Hiệp thông với Chúa Kitô tạo nên mối dây liên lạc giữa Thiên Chúa và con người. Có thể nói sự hiệp thông này đã nhập thể trong bí tích Thánh Thể, nhờ đó mà chúng ta kết hiệp với thân mình Thiên Chúa.
Nhờ vậy mà Giáo hội được sinh ra: Đó là sự hiệp thông trong các sự hiệp thông, nghĩa là nó hiện hữu như một thực tại Thánh Thể.
Mỗi một cộng đồng Thánh Thể trong toàn bộ của nó là ở trong sự hiện diện của Chúa Kitô. Điều này đòi hỏi rằng một cộng dồng không được đặt đối nghịch với những cái khác nhân danh "Chúa Kitô của mình", bởi vì chỉ có một Chúa Kitô. Cho nên người ta có thể thấy tầm quan trọng là tất cả các Giáo hội chỉ là một Giáo hội, bởi vì Chúa Kitô là một.
Tôi nghĩ rằng, từ đầu, chính cơ chế của Giáo hội được hình thành bởi sự duy nhất và sự đa dạng. Như có thể thấy, sự hiệp thông của Giáo hội là một sự kiện thần học chớ không phải xã hội học. Bất cứ ai biến đổi quan niệm hiệp thông thành một quan niệm thuần túy xã hội học là mắc phải một sai lầm.
Nhưng thưa Đức Hồng Y sự hiệp thông này có những hậu quả xã hội không?
HY Ratzinger: Tôi phải khuếch trương vấn đề: không những nói về sự trau dồi những tương quan đúng đắn giữa Giáo triều Roma và các Giáo hội địa phương, mà còn hơn hết phải nói về sự nuôi dưỡng sự hiệp nhất và sự đa dạng tức là Giáo hội.
Những Giáo hội địa phương phải sống những chi tiết văn hóa và lịch sử của mình bằng cách hoà nhập chúng trong sự hiệp nhất của toàn bộ, cởi mở mình đón nhận sự đóng góp hiệu quả của những Giáo hội khác, đến nỗi không giáo hội nào sẽ đi một con đường mà các giáo hội khác không biết.
Giáo Triều Roma là giáo triều giúp Đức Thánh Cha trong việc phục vụ của ngài cho sự hiệp nhất, có nhiệm vụ cổ võ sự hiểu biết lẫn nhau giữa các Giáo hội địa phương đến nỗi những khác biệt trở thành một thực tại đa âm, trong đó sự hiệp nhất và sự đa dạng được sống.
Xin Đức Hồng Y giải thích về nguyên tắc phụ liên đới có tầm quan trọng gì trong tương quan giữa "trung tâm" và "ngoại biên," giữa Tòa Thánh và các Giáo hội địa phương khác ?
HY Ratzinger: Đó là một quan niệm có tính cách kỹ thuật cần một cuộc bàn thảo chi tiết hơn đễ định nghĩa ý nghĩa của nó.
Có thể chấp nhận nó theo nghĩa là việc chú ý tới sự hiệp nhất không được làm tắt đi những đoàn sủng của các Giáo hội địa phương; hơn nữa, phải khuyến khích các Giáo hội địa phương và đặt các Giáo hội địa phương phục vụ một Giáo hội duy nhất.
Một mặt trung tâm phục vụ của Giáo Triều Roma không can dự với điều mà có thể được làm tốt hơn một cách cụ thể nơi giáo hội địa phương; tuy nhiên một mặt khác các Giáo hội địa phương không nên sống một cách tự trị, nhưng tự mình hướng tới làm phong phú cho sự hiệp nhất bởi vì Chúa Kitô là một.
Xin đan cử một thí dụ thích hợp. Nếu có những hồ nghi về tính chính thống của một thần học gia, thì giáo hội địa phương nơi thần học gia ấy không nên can thiệp trước khi có sự can thiệp của bộ mà hồng y là chủ tịch có đúng không?
Cardinal Ratzinger: Ở đây trong Bộ Giáo Lý Đức Tin, chúng tôi vui mừng khi một giám mục hay hội đồng giám mục liên hệ xử lý những vấn đề thuộc loại này. Nhưng, thường thường các ngài nói với chúng tôi rằng đó là những vấn đề ngoài tầm giới hạn của Giáo hội địa phương, cho nên những vấn đề đó liên hệ với Giáo hội hoàn vũ, và muốn được giúp đỡ.
Như thế liệu có phải các Ngài đã gạt bỏ trách nhiệm của mình chăng?
HY Ratzinger: Không, tôi không dám nói điều gì như thế. Chúng tôi luôn luôn khuyến khich các giám mục giải quyết những vấn đề như vấn đề anh vừa nhắc tới. Nhưng trong một thế giới còn toàn cầu hóa hơn, điều này thật cực kỳ khó khăn.
Những phát triển nào đã có được trong tính tập đoàn giám mục từ Vatican II thưa Đức Hồng Y?
HY Ratzinger: Đã có phát triển nhiều. Tôi nghĩ tới sự phát triển những cuộc thăm viếng "ad limina". Tôi nhớ tới môt cuộc thăm viếng đầu tiên tôi đã thực hiện trong năm 1977. Lúc ấy tôi đang làm Tổng Giám Mục Munich chỉ một thời gian ngắn. Cuộc thăm viếng đó chung cuộc gồm có gặp mặt với chủ tịch Bộ Giám mục, viếng mộ 2 thánh PhaoLô và Phêrô Tông Đồ và triều yết với Đức Phaolô VI.
Bây giờ, các giám mục gặp mặt với tất cả các bộ và hội đồng và có một cuộc bàn thảo sống động và hữu ích. Và các giám mục biết ơn về điều này: Một mặt, những gì đang xảy ra trong những lãnh vực địa lý và văn hóa khác nhau có thể được am tường hơn; và mặt khác, các giám mục có thể cùng nhau đề cập những giải pháp cho các vấn đề mà và như thế sẽ hiểu rõ hơn điều gì huấn quyền nói.
Tôi xin đưa ra cho anh một ví dụ khác: những tiếp xúc thường xuyên của chúng tôi đối với Hội dồng giám mục cũng như những cuộc thăm viếng lẫn nhau. Như vậy càng ngày càng hiểu nhau hơn.
Hơn nữa, không nên quên những thượng hội đồng giám mục. Nghĩa là có môt sự trao đổi liên tục giữa trung tâm và bên ngoài hầu tăng cường sự dấn thân chung cho một Giáo hội.
Nhưng hội đồng giám mục không phải được đánh giá hơn như một phương tiện của tính tập đoàn hay sao?
HY Ratzinger: Tôi xin phân biệt giữa những hội đồng nhỏ với 10 hay 15 giám mục, và những hội đồng rộng lớn hơn có thể tới hơn 200 giám mục.
Trong trường hợp thứ nhất, hội đồng giám mục có thể thực sự là một dụng cụ của sự phối hợp, có một cái nhìn chung, giúp đỡ lẫn nhau và khi cần thiết sửa sai cho nhau nữa.
Trong trường hợp đối với những hội đồng lớn hơn, khi các cuội họp đối mặt với hàng chồng tập giấy cần phải đọc, với những chương trình làm việc trong ngày cần phải tranh luận cả hàng chục điểm, tôi thiết nghĩa là không thể có một sự đối thoại thâm sâu được. Cũng có cái nguy hiểm là những sự bàn luận và những giải quyết được các văn phòng thực hiện, do bộ máy quan liêu.
Trong trường hợp những hôi đồng rộng lớn, sự bàn cãi có lẽ bị hạn chế vào một số luận cứ liên hệ, phần còn lại được phân quyền cho các Giáo hội địa phương. Điều quan trọng là những hội đồng phải là một công cụ linh động.
Hồng y nhắc tới thượng hội đồng như một gương phát triển trong tính tập đoàn. Hồng y có thích phương pháp hiện nay của những cuộc hợp thượng hội đồng?
HY Ratzinger: Mặc dầu là một ý kiến hoàn toàn cá nhân, tôi muốn nói rằng đó là một phương pháp nặng phần nghi lễ. Nó bảo đảm một nhịp độ lanh lẹ hơn trong những khóa làm việc, nhưng nó có cái bất lợi là môt sự tranh cãi đích thực giữa các giám mục tham gia không thể thực hiện được.
Chắc chắn cần bảo tồn tốc độ làm việc. Nhưng cần phải có thời gian cho một cuộc tranh luận được thực tiễn và hữu ích.