VATICAN -- Sáu tháng sau khi được bầu làm Giáo Hoàng vào ngày 16 tháng 10 năm 1978, Đức Thánh Cha Gioan Phalô Đệ Nhị trình bày Tông Huấn đầu tiên của Ngài cho toàn thể các tín hữu. Ngày 15 tháng 3 sắp tới là ngày kỷ niệm đánh dấu 25 năm ngày ban hành tông huấn này, là một sự tổng hợp của những gì sẽ được trình bày sau đây. Qua đó, vị Tân Giáo Hoàng duyệt qua lại những mục tiêu, chương trình hoạt động trong triều đại Giáo Hoàng của Ngài chính là nổ lực lôi kéo mọi người trở lại với Chúa Giêsu Kitô, về đường hướng chung của Giáo Hội, nhu cầu về việc đẩy mạnh những chiều kích về luân lý và việc bảo vệ nhân quyền.
Những sứ vụ mà Giáo Hội phải diện đối để bước vào thiên niên kỷ mới đều dựa trên về sự thật được tỏ bày vào phần khởi đầu của lá thư: “Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc Nhận Loại, là trung tâm điểm của vũ trụ và lịch sử.”
Tông huấn được chia ra làm 4 chương: “Sự Kế Thừa”, “Mầu Nhiệm Cứu Thế”, “Cứu Chuộc Nhân Loại và Giáo Hội Của Ngài Vào Thời Đại Mới”, và “Sứ Vụ của Giáo Hội và Đệnh Mệnh của Con Người.” Tông huấn được ký tại Rôma và ngày 4 tháng 3 năm 1979.
Chương I. Sự Kế Thừa
Lịch sử nhân loại cứ tiếp diễn cho đến cuối kỷ nguyên thứ nhì, và đó cũng là kỷ nguyên mừng Đại Lễ Toàn Xá. Thời điểm đó nhắc nhở chúng ta theo một cách đặc biệt về một sự thật chính yếu và quan trọng của đức tin mà Thánh Gioan đã đề cập đến trong phần mở đầu Phúc Âm của Ngài như: “Lúc khởi nguyên đã có Lời, và Lời ở nơi Thiên Chúa, và Lời là Thiên Chúa. Và Lời đã thành xác phàm, và đã lưu trú nơi chúng ta.” Bằng chính hành động cứu chuộc, lịch sử của nhân loại đã đạt đến cao điểm của nó: “Qua sự hiện thân, Thiên Chúa đã cho con người sự sống mà Ngài muốn mang lại cho chính chúng ta ngay chính từ thưở ban đầu.”
Bắt đầu dựa trên nền tảng cơ bản này, Đức Thánh Cha Gioan Phaolo Đệ Nhị luôn mong mõi việc đem ra thực hành những điều đã được giảng dạy qua Công Đồng Chung Vatican II (vào khoảng 1962-1965) và tiếp đó tiếp nối những công trình của những vị tiền nhiệm của Ngàu là Đức Giáo Hoàng Gioan 23, Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục, và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhất.
Trong suốt thời gian sóng gió của hậu “hội đồng giám mục”, Đức Thánh Cha Phaolô Đệ Lục biết cách làm sao để trình bày cho thế giới gương mặc đích thực của Giáo Hội để tránh những lời tự phê quá đáng. Chính nhờ Ngài mà “Giáo Hội ngày nay có được sự đoàn kết chặt chẻ hơn trong tình liên đới phục vụ và sự hiệp thông với sứ vụ tông đồ của mình.”
Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã thể hiện rõ quan đểm của Ngài nhằm tiến đến một sự hiệp nhất giữa những người Kitô giáo với nhau, bởi vì, theo Ngài, chính bản thân Chúa Giêsu Kitô, trong lúc cầu nguyện tại Cenacle rằng, “Lạy Cha... xin hãy cho chúng nên một.” Phải, hoạt động tông huấn có nghĩa là cởi mở, đem lại gần nhau hơn, sẵn sàng đối thoại, và cùng nhau khám tìm sự thật theo tinh thần phúc của Phúc Âm và của Kitô giáo. Tất cả những việc này cần phải được thi hành với sự kiên nhẫn, khiêm tốn, can trường mà không phải từ bỏ những tín lý đã được giảng dạy bởi Giáo Hội.
Chương Hai: Mầu Nhiệm Cứu Thế
Để lôi kéo người tín hữu đến gần với Thiên Chúa Cha, Giáo Hội phải tiếp tục cuộc đồng hành với Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc Thế Giới, bởi vì chỉ có mỗi mình Ngài, mới có thể cứu rỗi cho nhân loại. Thập Tự Giá trên đồi Calvary là bằng chứng bất diệt của tình Cha Con với Thiên Chúa Cha, và qua Con Một của Ngài là Chúa Giêsu, Ngài đã tỏ bày tình yêu thương, sự khiêm tốn và lòng nhân từ đối với con người chúng ta.
Con người chúng ta, không ai có thể sống mà không có tình yêu thương, và nếu chúng ta không hiểu được chính bản thân mình, thì như vậy, cuộc sống rồi chẳng sẽ còn có ý nghĩa gì cả. Vì lý do đó mà “Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế đã tỏ bày chính bản thân Ngài” cho chúng ta. Giáo Hội biết được rằng, “Việc Đấng Cứu Thế Loài Người đã khôi phục lại nhân phẩm của con người và qua Ngài, con người tìm lại được cùng đích của cuộc sống đời mình.” Do vậy, nhiệm vụ mang tính nền tảng của Giáo Hội, qua tất cả mọi thời đại, và cách riêng đối với thời đại chúng ta ngày nay, chính là “tỏ bày Thiên Chúa cho thế giới, để từ đó, giúp mỗi một người tìm lại chính mình qua chính Chúa Giêsu Kitô.” Sứ vụ tông đồ này dường như gặp phải nhiều chống đối trong thời đại ngày nay của chúng ta hơn là trong quá khứ; và chính vì thế, nó trở nên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết.
Chương Ba: Thiên Chúa Cứu Chuộc Con Người và Giáo Hội Của Ngài Trong Thời Đại Mới
Để theo Chúa Giêsu Kitô, Giáo Hội không thể làm ngơ với những gì mà con người ngày này đang phải diện đối cả về không gian và thời gian lẫn những gì đang đe dọa con người. Mối quan tâm của Giáo Hội chính là phải làm sao cho cuộc sống nơi trần thế này phản ánh đúng nhân phẩm của con người, vì chưng, đó cũng là mối quan của Chúa Giêsu Kitô, Chủ Chăn của Đàn Chiên.
Con người trong xã hội ngày nay dường như bị lệ thuộc quá nhiều vào những công trình sáng tạo và lao động của chính mình. Con người sống trong sự sợ hãi, vì lo sợ rằng những gì mình chế tạo được, rồi cũng sẽ trở thành những công cụ để tự hủy diệt lấy chính bản thân con người. Lý do dẫn đến sự sợ hãi này chính là xu hướng phát triển của kỷ thuật và nền văn minh nhân loại “đòi hỏi con người phải chọn lựa giữa những khía cạnh và chiều kích có liên quan đến mặt luân lý và đạo đức.” Vì những thành công, sáng chế và phát triển mới đây buộc con người phải chối bỏ sự chọn lựa đó.
Thật ra, “Thời đại của con người trong xã hội hiện đại ngày này quả thật dường như đã coi thường những đòi hỏi khách quan của một trật tự về luân lý, mà chú trọng quá nhiều vào những đòi hỏi của công lý, và thậm chí vào tình yêu thương xã hội.” Hãy luôn nhớ rằng sự hiểu biết của con người là do Đấng Tạo Hóa chi phối, định đoạt, để qua đó, con người cần phải biết ưu tiên chọn lựa giữa đạo đức tín lý lên trên khoa học, con người lên trên các vạn vật, và mặt thiêng liên lên trên mọi vần đề, sự kiện.
Con người không thể chối bỏ vị trí của mình là tồn tại nơi thế giới này, con người không thể làm nô lệ cho các thứ tạo vật, cho những hệ thống kinh tế, cho năng suất, và cho chính những sản phẩm của chính bản thân con người. Chỉ có một thời đại văn minh vật chất thuần túy mới có sự nô lệ như là hệ quả của nó mà thôi.
Từ đó, não trạng tâm lý của người tiêu thụ trong thế giới ngày nay nhất là tại các nước đã phát triển để dẫn đến việc thành lập những hình thái cấu trúc kinh tế và chính trị làm phung phí các tài nẳng về nguyên liệu, vật chất với một tốc độ chóng mặt, để từ đó, ảnh hưởng đến môi trường. Và đồng thời, chính bản thân con người cứ liên tục tạo ra những đau khổ triền miên.
Để làm thay đổi tình hình, những biện pháp mang tính sáng tạo và đặc trưng cần phải được đem ra áp dụng để khôi phục lại nhân phẩm đích thực của con người. Nguyên tắc đó phải đưa ra những hướng dẫn về việc tìm ra một cơ cấu và thể chế thích hợp để thâu ngắn và tái phân phát lại những gì cho những kẻ giàu có. Thế nhưng sự hoán chuyển tất yếu của các cấu trúc kinh tế sẽ không thể nào trở nên dễ dàng nếu như không có “sự can thiệp và chuyển đổi thật sự của con tim, của ý chí và của khối óc.”
Một khía cạnh khác có liên hệ đến sú vụ của Giáo Hội trong thế giới ngày nay chính là việc bảo vệ nhân quyền. Hòa bình chỉ thật sự đạt được khi những quyền này được tôn trọng; và khi có sự bùng nổ về chiến tranh, thì nhân quyền bị cướp đi.
Chính vì lý do này mà Giáo Hội, cùng với những con người thiện chí, phải liên tục đòi hỏi sự tôn trọng của Bản Tuyên Bố Về Nhân Quyền. Quyền lãnh đạo, vốn xuất phát từ trách nhiệm nền tẳng, tức là để bảo tồn những điều tốt đẹp cho xã hội-chỉ có thể hiểu theo đúng nghĩa của nó nếu như có việc tôn trọng nhân quyền.
Và trong các quyền đó. quyền tự do tôn giáo, tự do bày tỏ tín ngưỡng là điều đương nhiên. Nếu như không tôn trọng những quyền đó, thì có nghĩa là con người đã “phạm phải một trọng tội vì đã chối bỏ những quyền lợi đích thực, chính đáng của con người.” Việc tôn trọng những quyền lợi đó là một dấu chỉ quan trọng cho thấy có được sự tiến bộ rõ rệt của xã hội con người ngày nay hơn hẳn bất kỳ một loại xã hội nào khác.
Chương 4: Nhiệm Vụ Của Giáo Hội và Vận Mệnh Của Con Người
Cuộc sống bất diệt, đó chính là lời hứa của Đức Chúa Cha qua Chúa Giêsu Kitô, “chính là sự hoàn tất cuối cùng trong cuộc sống của con người”. Giáo Hội, sống giữa thực tại của trần gian, “cần phải chú tâm và suy tưởng chung quanh Mầu Nhiệm này, để qua đó tìm được ánh sáng, và sức mạnh rất cần thiết cho sứ vụ của mình.”
Qua việc giảng dạy của Công Đồng Chung Vatican II, Giáo Hội xuất hiện như là người có trách nhiệm trong việc chuyển hóa một cách chính sách sự thật của Ngôi Lời. Chính vì vậy, mà Giáo Hội phải bám chặt một cách trung thành vào những gì đã tuyên xưng, và giàng dạy về Đức Tin. Trách nhiệm này cũng đồng nghĩa với việc “yêu thương và kiếm tìm một cách hiểu biết chính xác nhất về Đức Tin, để qua đó, mang mọi người gần lại với nhau hơn.” Chính trong ý nghĩa này mà những cuộc hợp tác chặt chẽ với những nhà thần học và việc giáo huấn của Thiên Chúa là hoàn toàn không thể thiếu được. Là những thừa tác cho sự thật, “các nhà thần học không thể quên đi hay đi lạc hướng trong việc phục vụ Thiên Chúa qua bản thân Giáo Hội.”
Nhiệm vụ của Giáo Hội về những sự thật về Thiên Chúa cần phải được tỏ bày cho tất cả mọi người. Các nhà thần học, và “tất cả những ai đang học hỏi về Giáo Hội đều được mời gọi hãy cùng hiệp nhất với nhau trong đức tin qua việc học hỏi và sự thông tháo để cùng giúp và hổ trợ lẫn nhau, đề cùng với nhau trở nên một với Thiên Chúa”. Các chuyên gia nghiên cứu trong tất cả các lãnh vực khác nhau, đều là những thành phần trong Dân Chúa, hãy cùng tham gia vào sứ vụ tiên tri của Chúa Giêsu Kitô qua việc phục vụ trong sự thật của Ngài.
Cuộc sống theo thánh thể của Giáo Hội và của từng người Kitô Giáo phải đạt đến sự trọn vẹn qua Bí Tích Thánh Thể. Chính qua bí tích này, mà ý chỉ của Chúa Giêsu Nhập Thể, qua cái chết mầu nhiệm của Ngài trên Thập Giá, để nhận lãnh Thiên Chúa Cha qua hồng ân của Chúa Thánh Thần một sự sống mới bất diệt qua sự Phục Sinh, luôn luôn được thánh hóa mãi.
Trong việc cử hành Bí Tích Mình và Máu Thánh Chúa, điều quan trọng và tối cần chính là việc tôn trọng “tầm quan trọng hoàn hảo của việc Ngôi Lời Nhập Thể mà Chúa Giêsu Kitô qua sự hiện diện của bánh và rượu, để chúng ta đón nhận chính Thiên Chúa vào lòng, để tâm hồn chúng ta nhận được trọn vẹn ơn cứu rỗi của Ngài.” Giáo Hội, và đặc biệt là các Giám Mục và Linh Mục, phải chú trọng vào Bí Tích này như là trung tâm điểm của đời sống của hầu hết mọi thành phần Dân Chúa trong xã hội.
Bí Tích Thánh Thế phải được kết liên chặt chẻ với Bí Tích Giải Tội, bởi vì “Không có sự thanh tẩy liên tục, thì việc dự phần vào Bí Tích Thánh Thể sẽ hoàn toàn mất hẳn ý nghĩa cứu chuộc của nó.” Cả hai bí tích này có liên hệ chặt chẽ với cuộc sống của mội tín hữu theo như tinh thần của Phúc Âm. Một Giáo Hội luôn luôn chuẩn bị cuộc sống mới cho chính Thiên Chúa, phải là một Giáo Hội của Hai Bí Tích Thánh Thể và Bí Tích Giải Tội. “Chỉ khi nào Giáo Hội được con người nhìn nhận qua khía cạnh thiêng liêng, thì khi đó, cuộc sống và mọi hoạt động của Giáo Hội chính là thực hiện Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa nơi trần gian này.”
Ơn gọi của người Kitô hữu cũng đồng nghĩa với việc “là một người tôi tớ, phục vụ” và “là một người thông thái, lãnh đạo.”. Theo những giáo lý, giảng dạy của Chúa Giêsu, chỉ khi nào chúng ta “như là người tôi tớ, phục vụ”, thì khi đó, chúng ta đích thực là “những người thông thái, lãnh đạo.” Và đồng thời, “việc trở thành một người tôi tớ, phục vụ” cũng đòi hỏi chúng ta phải có một cuộc sống tâm linh vững chải để thực sự trở nên “người thông thái, lãnh đạo.”
Sứ vụ vương giả này đòi hỏi mỗi một người trong chúng ta phải theo gương Chúa Giêsu, để “thi hành những đòi hỏi như chính bản thân Ngài và đó chính là cách mà chúng ta được mời gọi.” Trung tín với ơn gọi của mình có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc thực thi những sứ vụ đòi hỏi những cam kết to lớn để có ảnh hưởng trên cuộc sống của bà con hàng xóm và của xã hội ngày nay.
Cộng tác với hồng ân mà Chúa Giêsu đã lãnh nhận được cho chính chúng ta, “để chúng ta có thể được xem như là “những người thông thái, lãnh đạo”, để chúng ta có thể thể hiện trọn vẹn hình ảnh của Ngài qua mỗi người trong chúng ta”. Điều đó có nghĩa là việc biến sự tự do trọn vẹn mà Thiên Chúa ban cho chúng ta, một cách có ý nghĩa hơn, vì “Chúa Giêsu dạy cho chúng ta biết cách dùng sự tự do của mình một cách có ý nghĩa qua việc từ thiện, nhân đức, dưới hình thức của việc dâng hiến chính mình để cho đi và phục vụ tha nhân”
Giáo Hội chỉ thực sự phục vụ cho con người khi Giáo Hội biết cách bảo vệ sự thật này bằng một tình yêu tha thiết, khi Giáo Hội biết cách chuyển giao và cho đi dưới hình thức cố định chính là cuộc sống con người. Điều đó có nghĩa là “con người bao giờ cũng vậy, vẫn luôn luôn là “đường” trong cuộc sống thường nhật của Giáo Hội.”
Để đối phó lại với những sứ vụ mà Giáo Hội đã thực hiện trước đây cũng như những sóng gió mà Giáo Hội sẽ gặp phải, việc liên lũy cầu nguyện trở nên quan trọng và thiết yếu hơn bao giờ hết. “Chỉ có cầu nguyện mới có thể cản ngăn những sóng gió, giúp Giáo Hội hoàn thành trọn vẹn sứ vụ của riêng mình, để biến cuộc khủng hoảng thành cơ hội, và đó chính là nền tảng, là sự thành công vượt hẳn mọi thành công bình thường khác: đó là dẫn đưa Dân Thiên Chúa cùng tiến về Đất Hứa.”
Những sứ vụ mà Giáo Hội phải diện đối để bước vào thiên niên kỷ mới đều dựa trên về sự thật được tỏ bày vào phần khởi đầu của lá thư: “Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc Nhận Loại, là trung tâm điểm của vũ trụ và lịch sử.”
Tông huấn được chia ra làm 4 chương: “Sự Kế Thừa”, “Mầu Nhiệm Cứu Thế”, “Cứu Chuộc Nhân Loại và Giáo Hội Của Ngài Vào Thời Đại Mới”, và “Sứ Vụ của Giáo Hội và Đệnh Mệnh của Con Người.” Tông huấn được ký tại Rôma và ngày 4 tháng 3 năm 1979.
Chương I. Sự Kế Thừa
Lịch sử nhân loại cứ tiếp diễn cho đến cuối kỷ nguyên thứ nhì, và đó cũng là kỷ nguyên mừng Đại Lễ Toàn Xá. Thời điểm đó nhắc nhở chúng ta theo một cách đặc biệt về một sự thật chính yếu và quan trọng của đức tin mà Thánh Gioan đã đề cập đến trong phần mở đầu Phúc Âm của Ngài như: “Lúc khởi nguyên đã có Lời, và Lời ở nơi Thiên Chúa, và Lời là Thiên Chúa. Và Lời đã thành xác phàm, và đã lưu trú nơi chúng ta.” Bằng chính hành động cứu chuộc, lịch sử của nhân loại đã đạt đến cao điểm của nó: “Qua sự hiện thân, Thiên Chúa đã cho con người sự sống mà Ngài muốn mang lại cho chính chúng ta ngay chính từ thưở ban đầu.”
Bắt đầu dựa trên nền tảng cơ bản này, Đức Thánh Cha Gioan Phaolo Đệ Nhị luôn mong mõi việc đem ra thực hành những điều đã được giảng dạy qua Công Đồng Chung Vatican II (vào khoảng 1962-1965) và tiếp đó tiếp nối những công trình của những vị tiền nhiệm của Ngàu là Đức Giáo Hoàng Gioan 23, Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục, và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhất.
Trong suốt thời gian sóng gió của hậu “hội đồng giám mục”, Đức Thánh Cha Phaolô Đệ Lục biết cách làm sao để trình bày cho thế giới gương mặc đích thực của Giáo Hội để tránh những lời tự phê quá đáng. Chính nhờ Ngài mà “Giáo Hội ngày nay có được sự đoàn kết chặt chẻ hơn trong tình liên đới phục vụ và sự hiệp thông với sứ vụ tông đồ của mình.”
Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã thể hiện rõ quan đểm của Ngài nhằm tiến đến một sự hiệp nhất giữa những người Kitô giáo với nhau, bởi vì, theo Ngài, chính bản thân Chúa Giêsu Kitô, trong lúc cầu nguyện tại Cenacle rằng, “Lạy Cha... xin hãy cho chúng nên một.” Phải, hoạt động tông huấn có nghĩa là cởi mở, đem lại gần nhau hơn, sẵn sàng đối thoại, và cùng nhau khám tìm sự thật theo tinh thần phúc của Phúc Âm và của Kitô giáo. Tất cả những việc này cần phải được thi hành với sự kiên nhẫn, khiêm tốn, can trường mà không phải từ bỏ những tín lý đã được giảng dạy bởi Giáo Hội.
Chương Hai: Mầu Nhiệm Cứu Thế
Để lôi kéo người tín hữu đến gần với Thiên Chúa Cha, Giáo Hội phải tiếp tục cuộc đồng hành với Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc Thế Giới, bởi vì chỉ có mỗi mình Ngài, mới có thể cứu rỗi cho nhân loại. Thập Tự Giá trên đồi Calvary là bằng chứng bất diệt của tình Cha Con với Thiên Chúa Cha, và qua Con Một của Ngài là Chúa Giêsu, Ngài đã tỏ bày tình yêu thương, sự khiêm tốn và lòng nhân từ đối với con người chúng ta.
Con người chúng ta, không ai có thể sống mà không có tình yêu thương, và nếu chúng ta không hiểu được chính bản thân mình, thì như vậy, cuộc sống rồi chẳng sẽ còn có ý nghĩa gì cả. Vì lý do đó mà “Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế đã tỏ bày chính bản thân Ngài” cho chúng ta. Giáo Hội biết được rằng, “Việc Đấng Cứu Thế Loài Người đã khôi phục lại nhân phẩm của con người và qua Ngài, con người tìm lại được cùng đích của cuộc sống đời mình.” Do vậy, nhiệm vụ mang tính nền tảng của Giáo Hội, qua tất cả mọi thời đại, và cách riêng đối với thời đại chúng ta ngày nay, chính là “tỏ bày Thiên Chúa cho thế giới, để từ đó, giúp mỗi một người tìm lại chính mình qua chính Chúa Giêsu Kitô.” Sứ vụ tông đồ này dường như gặp phải nhiều chống đối trong thời đại ngày nay của chúng ta hơn là trong quá khứ; và chính vì thế, nó trở nên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết.
Chương Ba: Thiên Chúa Cứu Chuộc Con Người và Giáo Hội Của Ngài Trong Thời Đại Mới
Để theo Chúa Giêsu Kitô, Giáo Hội không thể làm ngơ với những gì mà con người ngày này đang phải diện đối cả về không gian và thời gian lẫn những gì đang đe dọa con người. Mối quan tâm của Giáo Hội chính là phải làm sao cho cuộc sống nơi trần thế này phản ánh đúng nhân phẩm của con người, vì chưng, đó cũng là mối quan của Chúa Giêsu Kitô, Chủ Chăn của Đàn Chiên.
Con người trong xã hội ngày nay dường như bị lệ thuộc quá nhiều vào những công trình sáng tạo và lao động của chính mình. Con người sống trong sự sợ hãi, vì lo sợ rằng những gì mình chế tạo được, rồi cũng sẽ trở thành những công cụ để tự hủy diệt lấy chính bản thân con người. Lý do dẫn đến sự sợ hãi này chính là xu hướng phát triển của kỷ thuật và nền văn minh nhân loại “đòi hỏi con người phải chọn lựa giữa những khía cạnh và chiều kích có liên quan đến mặt luân lý và đạo đức.” Vì những thành công, sáng chế và phát triển mới đây buộc con người phải chối bỏ sự chọn lựa đó.
Thật ra, “Thời đại của con người trong xã hội hiện đại ngày này quả thật dường như đã coi thường những đòi hỏi khách quan của một trật tự về luân lý, mà chú trọng quá nhiều vào những đòi hỏi của công lý, và thậm chí vào tình yêu thương xã hội.” Hãy luôn nhớ rằng sự hiểu biết của con người là do Đấng Tạo Hóa chi phối, định đoạt, để qua đó, con người cần phải biết ưu tiên chọn lựa giữa đạo đức tín lý lên trên khoa học, con người lên trên các vạn vật, và mặt thiêng liên lên trên mọi vần đề, sự kiện.
Con người không thể chối bỏ vị trí của mình là tồn tại nơi thế giới này, con người không thể làm nô lệ cho các thứ tạo vật, cho những hệ thống kinh tế, cho năng suất, và cho chính những sản phẩm của chính bản thân con người. Chỉ có một thời đại văn minh vật chất thuần túy mới có sự nô lệ như là hệ quả của nó mà thôi.
Từ đó, não trạng tâm lý của người tiêu thụ trong thế giới ngày nay nhất là tại các nước đã phát triển để dẫn đến việc thành lập những hình thái cấu trúc kinh tế và chính trị làm phung phí các tài nẳng về nguyên liệu, vật chất với một tốc độ chóng mặt, để từ đó, ảnh hưởng đến môi trường. Và đồng thời, chính bản thân con người cứ liên tục tạo ra những đau khổ triền miên.
Để làm thay đổi tình hình, những biện pháp mang tính sáng tạo và đặc trưng cần phải được đem ra áp dụng để khôi phục lại nhân phẩm đích thực của con người. Nguyên tắc đó phải đưa ra những hướng dẫn về việc tìm ra một cơ cấu và thể chế thích hợp để thâu ngắn và tái phân phát lại những gì cho những kẻ giàu có. Thế nhưng sự hoán chuyển tất yếu của các cấu trúc kinh tế sẽ không thể nào trở nên dễ dàng nếu như không có “sự can thiệp và chuyển đổi thật sự của con tim, của ý chí và của khối óc.”
Một khía cạnh khác có liên hệ đến sú vụ của Giáo Hội trong thế giới ngày nay chính là việc bảo vệ nhân quyền. Hòa bình chỉ thật sự đạt được khi những quyền này được tôn trọng; và khi có sự bùng nổ về chiến tranh, thì nhân quyền bị cướp đi.
Chính vì lý do này mà Giáo Hội, cùng với những con người thiện chí, phải liên tục đòi hỏi sự tôn trọng của Bản Tuyên Bố Về Nhân Quyền. Quyền lãnh đạo, vốn xuất phát từ trách nhiệm nền tẳng, tức là để bảo tồn những điều tốt đẹp cho xã hội-chỉ có thể hiểu theo đúng nghĩa của nó nếu như có việc tôn trọng nhân quyền.
Và trong các quyền đó. quyền tự do tôn giáo, tự do bày tỏ tín ngưỡng là điều đương nhiên. Nếu như không tôn trọng những quyền đó, thì có nghĩa là con người đã “phạm phải một trọng tội vì đã chối bỏ những quyền lợi đích thực, chính đáng của con người.” Việc tôn trọng những quyền lợi đó là một dấu chỉ quan trọng cho thấy có được sự tiến bộ rõ rệt của xã hội con người ngày nay hơn hẳn bất kỳ một loại xã hội nào khác.
Chương 4: Nhiệm Vụ Của Giáo Hội và Vận Mệnh Của Con Người
Cuộc sống bất diệt, đó chính là lời hứa của Đức Chúa Cha qua Chúa Giêsu Kitô, “chính là sự hoàn tất cuối cùng trong cuộc sống của con người”. Giáo Hội, sống giữa thực tại của trần gian, “cần phải chú tâm và suy tưởng chung quanh Mầu Nhiệm này, để qua đó tìm được ánh sáng, và sức mạnh rất cần thiết cho sứ vụ của mình.”
Qua việc giảng dạy của Công Đồng Chung Vatican II, Giáo Hội xuất hiện như là người có trách nhiệm trong việc chuyển hóa một cách chính sách sự thật của Ngôi Lời. Chính vì vậy, mà Giáo Hội phải bám chặt một cách trung thành vào những gì đã tuyên xưng, và giàng dạy về Đức Tin. Trách nhiệm này cũng đồng nghĩa với việc “yêu thương và kiếm tìm một cách hiểu biết chính xác nhất về Đức Tin, để qua đó, mang mọi người gần lại với nhau hơn.” Chính trong ý nghĩa này mà những cuộc hợp tác chặt chẽ với những nhà thần học và việc giáo huấn của Thiên Chúa là hoàn toàn không thể thiếu được. Là những thừa tác cho sự thật, “các nhà thần học không thể quên đi hay đi lạc hướng trong việc phục vụ Thiên Chúa qua bản thân Giáo Hội.”
Nhiệm vụ của Giáo Hội về những sự thật về Thiên Chúa cần phải được tỏ bày cho tất cả mọi người. Các nhà thần học, và “tất cả những ai đang học hỏi về Giáo Hội đều được mời gọi hãy cùng hiệp nhất với nhau trong đức tin qua việc học hỏi và sự thông tháo để cùng giúp và hổ trợ lẫn nhau, đề cùng với nhau trở nên một với Thiên Chúa”. Các chuyên gia nghiên cứu trong tất cả các lãnh vực khác nhau, đều là những thành phần trong Dân Chúa, hãy cùng tham gia vào sứ vụ tiên tri của Chúa Giêsu Kitô qua việc phục vụ trong sự thật của Ngài.
Cuộc sống theo thánh thể của Giáo Hội và của từng người Kitô Giáo phải đạt đến sự trọn vẹn qua Bí Tích Thánh Thể. Chính qua bí tích này, mà ý chỉ của Chúa Giêsu Nhập Thể, qua cái chết mầu nhiệm của Ngài trên Thập Giá, để nhận lãnh Thiên Chúa Cha qua hồng ân của Chúa Thánh Thần một sự sống mới bất diệt qua sự Phục Sinh, luôn luôn được thánh hóa mãi.
Trong việc cử hành Bí Tích Mình và Máu Thánh Chúa, điều quan trọng và tối cần chính là việc tôn trọng “tầm quan trọng hoàn hảo của việc Ngôi Lời Nhập Thể mà Chúa Giêsu Kitô qua sự hiện diện của bánh và rượu, để chúng ta đón nhận chính Thiên Chúa vào lòng, để tâm hồn chúng ta nhận được trọn vẹn ơn cứu rỗi của Ngài.” Giáo Hội, và đặc biệt là các Giám Mục và Linh Mục, phải chú trọng vào Bí Tích này như là trung tâm điểm của đời sống của hầu hết mọi thành phần Dân Chúa trong xã hội.
Bí Tích Thánh Thế phải được kết liên chặt chẻ với Bí Tích Giải Tội, bởi vì “Không có sự thanh tẩy liên tục, thì việc dự phần vào Bí Tích Thánh Thể sẽ hoàn toàn mất hẳn ý nghĩa cứu chuộc của nó.” Cả hai bí tích này có liên hệ chặt chẽ với cuộc sống của mội tín hữu theo như tinh thần của Phúc Âm. Một Giáo Hội luôn luôn chuẩn bị cuộc sống mới cho chính Thiên Chúa, phải là một Giáo Hội của Hai Bí Tích Thánh Thể và Bí Tích Giải Tội. “Chỉ khi nào Giáo Hội được con người nhìn nhận qua khía cạnh thiêng liêng, thì khi đó, cuộc sống và mọi hoạt động của Giáo Hội chính là thực hiện Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa nơi trần gian này.”
Ơn gọi của người Kitô hữu cũng đồng nghĩa với việc “là một người tôi tớ, phục vụ” và “là một người thông thái, lãnh đạo.”. Theo những giáo lý, giảng dạy của Chúa Giêsu, chỉ khi nào chúng ta “như là người tôi tớ, phục vụ”, thì khi đó, chúng ta đích thực là “những người thông thái, lãnh đạo.” Và đồng thời, “việc trở thành một người tôi tớ, phục vụ” cũng đòi hỏi chúng ta phải có một cuộc sống tâm linh vững chải để thực sự trở nên “người thông thái, lãnh đạo.”
Sứ vụ vương giả này đòi hỏi mỗi một người trong chúng ta phải theo gương Chúa Giêsu, để “thi hành những đòi hỏi như chính bản thân Ngài và đó chính là cách mà chúng ta được mời gọi.” Trung tín với ơn gọi của mình có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc thực thi những sứ vụ đòi hỏi những cam kết to lớn để có ảnh hưởng trên cuộc sống của bà con hàng xóm và của xã hội ngày nay.
Cộng tác với hồng ân mà Chúa Giêsu đã lãnh nhận được cho chính chúng ta, “để chúng ta có thể được xem như là “những người thông thái, lãnh đạo”, để chúng ta có thể thể hiện trọn vẹn hình ảnh của Ngài qua mỗi người trong chúng ta”. Điều đó có nghĩa là việc biến sự tự do trọn vẹn mà Thiên Chúa ban cho chúng ta, một cách có ý nghĩa hơn, vì “Chúa Giêsu dạy cho chúng ta biết cách dùng sự tự do của mình một cách có ý nghĩa qua việc từ thiện, nhân đức, dưới hình thức của việc dâng hiến chính mình để cho đi và phục vụ tha nhân”
Giáo Hội chỉ thực sự phục vụ cho con người khi Giáo Hội biết cách bảo vệ sự thật này bằng một tình yêu tha thiết, khi Giáo Hội biết cách chuyển giao và cho đi dưới hình thức cố định chính là cuộc sống con người. Điều đó có nghĩa là “con người bao giờ cũng vậy, vẫn luôn luôn là “đường” trong cuộc sống thường nhật của Giáo Hội.”
Để đối phó lại với những sứ vụ mà Giáo Hội đã thực hiện trước đây cũng như những sóng gió mà Giáo Hội sẽ gặp phải, việc liên lũy cầu nguyện trở nên quan trọng và thiết yếu hơn bao giờ hết. “Chỉ có cầu nguyện mới có thể cản ngăn những sóng gió, giúp Giáo Hội hoàn thành trọn vẹn sứ vụ của riêng mình, để biến cuộc khủng hoảng thành cơ hội, và đó chính là nền tảng, là sự thành công vượt hẳn mọi thành công bình thường khác: đó là dẫn đưa Dân Thiên Chúa cùng tiến về Đất Hứa.”