Phỏng vấn Đức Ông Livio Melina của Đại học Lateranô
ST. PAUL,Minnesota (Zenit.org).-Thần học luân lý của Giáo hội phải tập trung đến việc giải phóng trọn vẹn con người, không chỉ trên những qui luật, ngõ hầu đáp ứng với cơn khủng hoảng hiện thời.
Đức Ông Livio Melina là phó giám đốc và là giáo sư thần học luân lý tại Học viện Gioan Phaolô II Nghiên Cứu về Hôn nhân và Gia đình của Đại học Lateranô tại Rome.
Đức Ông Melina giải thích về việc Đức Gioan Phaolô II đã vạch đường hướng mà một sự đổi mới thần học luân lý phải theo.
Thách đố lớn nhất nào đối mặt thần học ngày nay, thưa Đức Ông?
Đức Ông Melina: Trong một đại hội quan trọng tại Roma vào hồi tháng 11 vừa qua, Đức Hồng Y Ratzinger đã nói nhiệm vụ quan trọng nhất của thần học luân lý trong thời gian hiện tại là không phải trình bày một bộ tập hữu cơ những luật luân lý, nhưng hơn hết phải đào sâu mầu nhiệm sự hiệp đồng giữa hành động của Thiên Chúa và của con người.
Hành động của con người là một mầu nhiệm thâm sâu và có thực trong đó Thiên Chúa và con người hợp tác vì định mạng cuối cùng của chúng ta là thần hóa con người; đây là mục đích sự sống chúng ta.
Tôi nghĩ điều rất quan trọng là hiểu lý do tại sao Giáo hội quan tâm đến nền luân lý. Giáo hội không phải là người bảo vệ hay là người tôi tớ của những qui luật luân lý. Nhưng hơn hết Giáo hội là cộng đồng trong đó sự kinh nghiệm Kitô hữu trọn vẹn có thể là sự đổi mới sự sống con người.
Sự quan tâm của Giáo hội về nên luân lý là một sự quan tâm về việc giải phóng nguyên vẹn con người. Nếu chúng ta nghi ngờ hành động luân lý cố kết với đức tin, thì chúng ta mất ý nghĩa sự sống hằng ngày của chúng ta, mất đi ý nghĩa của những nhiệm vụ hằng ngày của chúng ta.
Tôi nghĩ đếnquan điểm chính của thần học luân lý là tái chiếm đoạt mầu nhiệm về hành động. Tôi nghĩ rằng cơn khủng hoảng của những thập niên cuối bắt nguồn chính xác trong sự mất mát đi mầu nhiệm này.
Khi quý vị nhìn hành động của con người chỉ vì vụ lợi, quý vị thấy hành động của con người trước hết như là một biến cố xảy ra trong thế giới và chỉ như điều gì có thể thay đổi tình trạng những sự việc trong thế gới.
Quý vị bị cám dỗ đo lường giá trị hành động của con người chỉ bằng càch cân nhắc và tính toán sự cân đối giữa sự lành và sự dữ có thể phát sinh từ hành động của con người. Hay là quý vịbị cám dỗ chỉ đo lường hành động của con người trong một cách rất bề ngoài đối với những qui luật luân lý.
Dĩ nhiên những qui luật đó là quan trọng và cần thiết cho sự sống con người--chúng là một sự giúp đỡ cho chúng ta xác minh tương quan chúng ta với Chúa Kitô. Nhưng chúng không phải là yếu tố chính của thần học luân lý Công giáo.
Thần học luân lý Công giáo, muốn nên trung thành với nhiệm vụ của nó trong sự sống Giáo hội, phải nghĩ đến một bối cảnh suy tư rộng rải hơn nhiều.
Khi thông điệp "Ánh Quang Chân Lý” (Veritatis Splendor) nói về cơn khủng hoảng đạo đức, có nhấn mạnh đến hai nét chính. Nét thứ nhất là sự phân cách giữa tự do và chân lý, và nét thứ hai là sự phân cách giữa đức tin và đạo đức. Thông điệp vạch rõ sai lầm về cơn khủng hoảng này.
Khi tự do không qui chiếu về chân lý, thì tự do chỉ là một quyền lực tùy tiện trên thế giới, không đồng thuận với ơn gọi sâu xa của chúng ta.
Khi đạo đức không ăn rễ sâu trong đức tin, thì đức tin trở thành một cái gì vô dụng đối với thế giới, và đạo đức trở thành sự dấn thân bên ngoài mà thôi chớ không có những gốc rễ thích hợp có thể nuôi dưỡng sự sống người Kitô bữu.
Sự đóng góp quan trọng nhất của Đức Gioan Phaolô II cho thần học luân lý là gì thưa Đức Ông?
Đức Ông Melina: Một đàng, chúng ta có thể nói rằng sự đóng góp chính của Ngài là luôn luôn đặt kinh nghiệm nguyên thủy của con người trong tương quan với Mạc khải. Điều này xảy ra hầu thiết lập sự phù hợp, qua đó Mạc khải có thể được hiểu trong một cách đặc biệt nhân bản, và kinh nghiệm của con người có thể hoàn tất sự chiếu sáng cuối cùng của nó, ý nghĩa cuối cùng của nó.
Lãnh vực góp phần thứ hai là khối lượng giáo lý tuyệt vời vào những buổi triều yết chung ngày thứ Tư, trong đó Đức Thánh Cha đề nghị đến thần học thân xác một cách rất độc đáo và mới mẻ. Đó là một nguồn gốc thật cho thần học luân lý tính dục Công giáo.
Sau những cái này, có sự đóng góp của Ngài bằng thông điệp “Ánh quang chân lý” (Veritatis Splendor) trong lãnh vực thần học luân lý cơ bản. Đức Thánh Cha không những giải đáp một số vấn đề to lớn thần học luân lý ngày nay, mà còn chỉ đạo cho các thần học gia luân lý đường hướng đổi mới thần học luân lý.
Tôi thiết nghĩ rằng sự đóng góp chính của Đức thánh Cha, giúp cho sự hiểu biết hành động của con người Kitô hữu, trước hết là bối cảnh nhân vị hành động của con người.
Điều đó có nghĩa là hành động nhân bản là hành động giữa những con người và hành động trong đó con người xây dựng chính mình đang lúc hành động. Đó là quan điểm nhân vị của hành động. Thứ hai, Đức Gioan Phaolô II cho chúng ta bối cảnh thần học về hành động kitô hữu. Hành động Kitô hữu là chia sẻ trong hành động của Chúa Kitô.
Đức Thánh Cha cũng đã đóng góp quan trọng trong lãnh vực huấn giáo xã hội của Giáo hội, đó cũng là thành phần của thần học luân lý.
Khi Đức Thánh Cha nói về ý nghĩa nhân vị của lao động, khi Ngài nói rất thâm sâu về những vấn đề hoà bình và công lý trong thế giới, Ngài mang đến những sự đóng góp rất quí báu và rất thích đáng giúp hiểu bối cảnh trong đó chúng ta đang sống.
ST. PAUL,Minnesota (Zenit.org).-Thần học luân lý của Giáo hội phải tập trung đến việc giải phóng trọn vẹn con người, không chỉ trên những qui luật, ngõ hầu đáp ứng với cơn khủng hoảng hiện thời.
Đức Ông Livio Melina là phó giám đốc và là giáo sư thần học luân lý tại Học viện Gioan Phaolô II Nghiên Cứu về Hôn nhân và Gia đình của Đại học Lateranô tại Rome.
Đức Ông Melina giải thích về việc Đức Gioan Phaolô II đã vạch đường hướng mà một sự đổi mới thần học luân lý phải theo.
Thách đố lớn nhất nào đối mặt thần học ngày nay, thưa Đức Ông?
Đức Ông Melina: Trong một đại hội quan trọng tại Roma vào hồi tháng 11 vừa qua, Đức Hồng Y Ratzinger đã nói nhiệm vụ quan trọng nhất của thần học luân lý trong thời gian hiện tại là không phải trình bày một bộ tập hữu cơ những luật luân lý, nhưng hơn hết phải đào sâu mầu nhiệm sự hiệp đồng giữa hành động của Thiên Chúa và của con người.
Hành động của con người là một mầu nhiệm thâm sâu và có thực trong đó Thiên Chúa và con người hợp tác vì định mạng cuối cùng của chúng ta là thần hóa con người; đây là mục đích sự sống chúng ta.
Tôi nghĩ điều rất quan trọng là hiểu lý do tại sao Giáo hội quan tâm đến nền luân lý. Giáo hội không phải là người bảo vệ hay là người tôi tớ của những qui luật luân lý. Nhưng hơn hết Giáo hội là cộng đồng trong đó sự kinh nghiệm Kitô hữu trọn vẹn có thể là sự đổi mới sự sống con người.
Sự quan tâm của Giáo hội về nên luân lý là một sự quan tâm về việc giải phóng nguyên vẹn con người. Nếu chúng ta nghi ngờ hành động luân lý cố kết với đức tin, thì chúng ta mất ý nghĩa sự sống hằng ngày của chúng ta, mất đi ý nghĩa của những nhiệm vụ hằng ngày của chúng ta.
Tôi nghĩ đếnquan điểm chính của thần học luân lý là tái chiếm đoạt mầu nhiệm về hành động. Tôi nghĩ rằng cơn khủng hoảng của những thập niên cuối bắt nguồn chính xác trong sự mất mát đi mầu nhiệm này.
Khi quý vị nhìn hành động của con người chỉ vì vụ lợi, quý vị thấy hành động của con người trước hết như là một biến cố xảy ra trong thế giới và chỉ như điều gì có thể thay đổi tình trạng những sự việc trong thế gới.
Quý vị bị cám dỗ đo lường giá trị hành động của con người chỉ bằng càch cân nhắc và tính toán sự cân đối giữa sự lành và sự dữ có thể phát sinh từ hành động của con người. Hay là quý vịbị cám dỗ chỉ đo lường hành động của con người trong một cách rất bề ngoài đối với những qui luật luân lý.
Dĩ nhiên những qui luật đó là quan trọng và cần thiết cho sự sống con người--chúng là một sự giúp đỡ cho chúng ta xác minh tương quan chúng ta với Chúa Kitô. Nhưng chúng không phải là yếu tố chính của thần học luân lý Công giáo.
Thần học luân lý Công giáo, muốn nên trung thành với nhiệm vụ của nó trong sự sống Giáo hội, phải nghĩ đến một bối cảnh suy tư rộng rải hơn nhiều.
Khi thông điệp "Ánh Quang Chân Lý” (Veritatis Splendor) nói về cơn khủng hoảng đạo đức, có nhấn mạnh đến hai nét chính. Nét thứ nhất là sự phân cách giữa tự do và chân lý, và nét thứ hai là sự phân cách giữa đức tin và đạo đức. Thông điệp vạch rõ sai lầm về cơn khủng hoảng này.
Khi tự do không qui chiếu về chân lý, thì tự do chỉ là một quyền lực tùy tiện trên thế giới, không đồng thuận với ơn gọi sâu xa của chúng ta.
Khi đạo đức không ăn rễ sâu trong đức tin, thì đức tin trở thành một cái gì vô dụng đối với thế giới, và đạo đức trở thành sự dấn thân bên ngoài mà thôi chớ không có những gốc rễ thích hợp có thể nuôi dưỡng sự sống người Kitô bữu.
Sự đóng góp quan trọng nhất của Đức Gioan Phaolô II cho thần học luân lý là gì thưa Đức Ông?
Đức Ông Melina: Một đàng, chúng ta có thể nói rằng sự đóng góp chính của Ngài là luôn luôn đặt kinh nghiệm nguyên thủy của con người trong tương quan với Mạc khải. Điều này xảy ra hầu thiết lập sự phù hợp, qua đó Mạc khải có thể được hiểu trong một cách đặc biệt nhân bản, và kinh nghiệm của con người có thể hoàn tất sự chiếu sáng cuối cùng của nó, ý nghĩa cuối cùng của nó.
Lãnh vực góp phần thứ hai là khối lượng giáo lý tuyệt vời vào những buổi triều yết chung ngày thứ Tư, trong đó Đức Thánh Cha đề nghị đến thần học thân xác một cách rất độc đáo và mới mẻ. Đó là một nguồn gốc thật cho thần học luân lý tính dục Công giáo.
Sau những cái này, có sự đóng góp của Ngài bằng thông điệp “Ánh quang chân lý” (Veritatis Splendor) trong lãnh vực thần học luân lý cơ bản. Đức Thánh Cha không những giải đáp một số vấn đề to lớn thần học luân lý ngày nay, mà còn chỉ đạo cho các thần học gia luân lý đường hướng đổi mới thần học luân lý.
Tôi thiết nghĩ rằng sự đóng góp chính của Đức thánh Cha, giúp cho sự hiểu biết hành động của con người Kitô hữu, trước hết là bối cảnh nhân vị hành động của con người.
Điều đó có nghĩa là hành động nhân bản là hành động giữa những con người và hành động trong đó con người xây dựng chính mình đang lúc hành động. Đó là quan điểm nhân vị của hành động. Thứ hai, Đức Gioan Phaolô II cho chúng ta bối cảnh thần học về hành động kitô hữu. Hành động Kitô hữu là chia sẻ trong hành động của Chúa Kitô.
Đức Thánh Cha cũng đã đóng góp quan trọng trong lãnh vực huấn giáo xã hội của Giáo hội, đó cũng là thành phần của thần học luân lý.
Khi Đức Thánh Cha nói về ý nghĩa nhân vị của lao động, khi Ngài nói rất thâm sâu về những vấn đề hoà bình và công lý trong thế giới, Ngài mang đến những sự đóng góp rất quí báu và rất thích đáng giúp hiểu bối cảnh trong đó chúng ta đang sống.