VATICAN,19.9.2002 (Zemit. org). - Ðức Gioan Phaolô II dặn dò các giám mục Brésil phải đòi hỏi nhiều trong sự nhận định và đào tạo các ơn gọi linh mục: một ưu tiên tuyệt đối trong mục tiêu của một việc mục vụ đổi mới và truyền giáo
Ðức giáo hoàng đã tiếp các giám mục Vùng “Ðông 1” Brésil đang viếng “mồ các Tông đồ” trong buổi sớm mai thứ năm ngày 5 septembre 2002, tại đền tông đồ Castelgandolfo. Trong buổi gặp gỡ, Ðức Thánh Cha đã đọc bài diễn văn sau đây:
Chư huynh thân mến trong chức giám mục,
1. Trong thời gian mạnh của thừa tác vụ giám mục của chư huynh thể hiện qua việc viếng thăm ad limina, tôi vui mùng đón tiếp chư huynh, là những người có trách nhiệm mục vụ Giáo hội trong Vùng “Ðông 1” Brésil, tùy thuộc vào Vùng này có các giáo phận Quốc gia Rio de Janeiro và “Liên hiệp Saint Jean Marie Vianney” mà tôi đã muốn xây dựng tại Campos, như chức Giám quản tông tòa cá nhân.
Chư huynh đã đến tỉnh tâm trên mộ các Tông đồ Phero và Phaolô, hầu phát triển trong bản thân chư huynh sự nhiệt tình tông đồ đã thúc đẩy và đưa các ngài tới đây để làm chứng nhân Tin Mừng Chúa Kitô, bằng cách chấp nhận hiến trọn vẹn sự sống mình. Khi gặp Giám mục Roma và các cọng tác viên của ngài, chư huynh cũng muốn bày tỏ sự hiệp thông của chư huynh với người Kế vị thánh Pherô và với Giáo hội phổ quát, Xin Chúa chúc lành sáng kiến của chư huynh và nâng đỡ chư huynh trong việc phục vụ dân đã được phó thác cho chư huynh.
Khi cám ơn Hồng Y Eugenio Sales về những lời hồng y đã nói với tôi, để diễn tả những tâm tình tôn kính và yêu mến, tôi chào tất cả những người hiện diện và, qua hồng y, tôi tưởng nhớ tới các linh mục, các tu sĩ nam và các tu sĩ nữ, các giáo lý viên và các người giáo dân khác giáo phận hồng y. Xin Chúa ban cho họ sức mạnh và sự bạo dạn làm những chứng nhân chăm chỉ về tình yêu của Chúa giữa anh em mình, trong mọi hoàn cảnh.
2. Tổng giáo phận Niterii, cũng như tổng giáo phận Rio de Janeiro, có một truyền thống giàu và năng động. Trong tổng giáo phận sau, từ bình minh lịch sử Brésil, khi đấng tiền nhiệm đáng kính của tôi, Giáo hoàng Grégoire III, sáng lập ngày 19 juillet 1575 hạt Phủ doãn Sao Sebasteio, cho tới nay, Giáo hội Công giáo đã cổ võ nhiều sáng kiến mục vụ, nhờ sự nhiệt tình quảng đại của những gương mặt trổi vượt như những gương mặt các hồng y Arcoverde, Sebastieio, Jaime de Barros Cmara và Eugenio Sales, chỉ mới trính một ít tên.
Tòa thánh Phero này ao ước kính chào tất cả những người, giám chức, giám mục và tổng giám mục của hai tổng giáo phận, những vị đã phục vụ sự nghiệp của Nước Chúa giữa dân quốc gia to lớn này, bằng cách làm mọc lên những hạt giống Lời, cho đến độ biến chúng thành một cây xanh tươi (x. Mt 13, 31-32). Ði theo truyền thống này, tôi cầu chúc cho “Vùng này” tiếp tục gây ảnh hưởng tích cực của mình trên toàn thể Giáo hội tại Brésil, bằng cách cổ võ một tinh thần mãnh liệt hiệp thông với hàng giám mục quốc gia và với Tòa Thánh. Tôi cũng nhân dịp này cầu chúc mọi sự lành cho Tổng giám mục de Rio de Janeiro, Ðức Cha Eusébio Oscar Scheid, lúc này ngài khỉ sự sứ vụ của ngài với tư cách một mục tử mới của tổng giáo phận.
3. Chính trong khuôn khổ những cầu chúc này mà tôi muốn nêu lên một số nhận xét về các chủng viện trong việc đào tạo các linh mục tương lai cho Brésil, vì đó là một ưu tiên tuyệt đối cho một việc mục vụ đổi mới và truyền giáo.
Cuộc gặp gỡ trọng đại năm 1992, tại Saint-Dominique, với hàng giám mục Mỹ-latinh còn đậm nét trong các ký ức. Những chủ đề được đề cập tới trong dịp này, liên can những hoàn cảnh và tình thế Giáo hội, vượt quá những ranh giới siết chặc của một hay nhiều nước. Trong những nước này, tôi lấy lại một trong những lý do chính tạo nên cuộc họp này. Nhơn dịp này, tôi đã nói “điều kiện cần thiết cho việc tân phúc âm hóa là có thể dựa vào số đông các nhà truyền giáo có đức tính. Do đó, việc cổ võ các ơn gọi linh mục và tu sĩ, cũng như việc cổ võ các tác nhân mục vụ khác phải được coi như một ưu tiên đối với các giám mục và một cam kết đối với toàn ghể dân Chúa” (Discours d inauguration, n. 26, x. ORLF n. 42 du 20 octobre 1992)
Gần 10 năm trôi qua, và chắc chắn đã hoàn thành được một việc làm to lớn theo chiều hướng này, cách riêng trên đất chư huynh, nơi sự gia tăng dân số tiến triển với một nhịp nhanh, và là nơi yêu sách ấn định những ranh giới mới giáo hội đã cố gắng đi theo cuộc tiến hóa này, với giá một cố gắng lớn. Khi nghĩ tới sự rộng lớn đất Brésil và tới sự thiếu linh mục, những người cọng tác trực tiếp trong thừa tác vụ ngôn sứ, tư tế và vương giả, tôi muốn chia sẻ với chư huynh, với tư cách người phải củng cố anh em mình trong đức tin, vấn đề nầy, vấn đề thuộc về Giáo hội phổ quát.
Tâm tình chúng ta phải như tâm tình của Chúa, Người “ thấy đoàn lũ thì thương và nói “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Mt 9, 37-38). Nhờ sự cầu nguyện, sự yếu hèn con người trở thành sức mạnh thần linh, bởi vì chúng ta có thể làm mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho chúng ta (x. Ph 4, 13).
Bí quyết đạt những kết quả tốt ở trong sức mạnh của Chúa và trong việc làm của con người, mà làm cách khôn ngoan. Những mục tử hợp nhất sức mạnh của mình, hoặc qua các chủng viện giáo phận mở cho các sinh viên các giáo phận khác hay là qua những chủng viện liên giáo phận, thì tỏ ra khôn ngoan, vì đã giữ được một hướng hiệp thông rõ ràng và xác định tốt với các luật lệ của Giáo hội phổ quát.
Những mục tử nào không do dự đặt trong “ao cá các linh mục” những “nhà nông” giỏi nhất của mình đã được chuẩn bị về mặt trí thức, thiêng liêng và mục vụ, hầu họ tạo thành nhóm người giáo dục Giáo hội cần, với con số thích hợp trong mổi chủng viện, thì tỏ ra khôn ngoan.
Phát triển các trung tâm đào tạo là một bằng chứng khôn ngoan; không coi thường phẩm chất của việc đào tạo để gia tăng số lượng, nhưng trong trí khôn vẫn nhớ tới mùa gặt bao la, là một sự khôn ngoan đáng khen.
4. Toà tông đồ chắc chắn tha thiết, trong sự hòa hợp với các Mục tử và Hội đồng quốc gia các Giám mục Brésil, đương đầu với những yêu sách thành lập hay phục hoạt các chủng viện trong những giáo tỉnh khác nhau. Trên thật tế, những cố gắng quan trọng nhất được tập trung trong những vùng đông-bắc của xứ, do hoàn cảnh kinh tế bấp bênh của các lãnh thổ và, do đó, do sự khó khăn thực sự của các giám mục để bảo đảm sinh hoạt và điều hành các chủng viện cách xứng hợp và hiệu nghiệm. Trong bối cảnh này, sự cam kết hầu có thể có được những cấu trúc, ít nhất cơ sở, để kêu gọi, tuyển chọn và đào tạo các ơn thiên triệu linh mục đang cần, thì chắc đáng hoan nghênh. Do đó, tôi đã theo sự tiến hóa của cái gì có thể trở thành một “chiến dịch” thực sự có lợi cho các chủng viện tại Brésil.
5. Trên thực tế, vấn đê này không hoàn toàn xa lạ đối với những vùng nơi có những cấu trúc tốt hơn không những để đào tạo, mà còn có tính vật chất. Như tôi đã nói trên, phát triển những trung tâm đào tạo thì chưa đủ nếu người ta không cố gắng nhấn mạnh về tinh thần gáo hội điều khiển chủng viện và về phẩm chất của việc dạy dỗ; người ta luôn luôn bù vào sự thiếu các phương tiện kinh tế bằng những cố gắng và thiện chí của mọi người, cũng còn của những sức sống của mổi giáo phận; cho nên tôi cầu xin Chúa vui lòng thưởng công tất cả những kẻ không tiết kiệm nhũng cố gắng mình và những kẻ không tiết kiệm những cố gắng đó để giúp các chủng viện, mà sự quản lý sẽ luôn luôn thiếu hụt.
Như vậy điều hợp thời là có một cái nhìn đức tin trên hoàn cảnh các ơn gọi linh mục. Đàng khác, chúng ta đứng trước thực tại gia tăng đầy an ủi của những ơn gọi linh mục, trong số lượng cũng như trong chất lượng. Có nhiều kinh nghiệm mới và đáng giá, như những ngày cho ơn gọi, cho sự nhân định ơn gọi, cho sự theo dõi các ứng viên có thể vào chủng viện, cũng như những kinh nghiệm khác. Người ta cũng nhận thấy sự gia tăng đầy an ủi những ơn gọi trong các giáo phận, mà các chủng viện tìm đi theo cách thẳng nhặt đường hướng của Công đồng Vatican II và của Tòa Thánh, và cách riêng Tông huấn Pastores dabo vobis, nhấn mạnh tới chiều kích nhân bản và tình cảm, thiêng liêng, trí thức và mục vụ. Những Đường hướng cơ bản của Hội đồng quốc gia Giám mục Brésil (n. 55) đã cung cấp những đóng góp giá trị trong chiều hướng này.
Nhưng, đàng khác, ảnh hưởng mà thế giới tân thời, với khuynh hướng “tục hóa” và khoái lạc, gây trên các người kitô hữu, nhất là giới trẻ, sẽ phải được đương đầu với một sự cương quyết lớn hơn hầu nhắc nhở và vun trồng, nơi những kẻ có ơn gọi, tình yêu sâu xa đối với Chúa Kitô và Vương quốc Người. Cần một sự đào tạo vững chắc về sự cầu nguyện và phụng vụ, nhờ đó mà Giáo hội tham gia, ngay từ bây giờ, vào phụng vụ trong vinh quang Thiên đàng.
Do đó, lòng trung với giáo lý về sự độc thân linh mục vì Nước Trời phải được Giáo hội kính trọng, nhất là trong đời sống linh mục (x. Presbyterorum ordinis, 16), khi nói về sự nhận định nơi các ứng viên linh mục lời gọi hiến dâng mình vô điều kiện và hoàn toàn. Cần nhắc cho họ nhớ rằng sự độc thân không phải là một yếu tố ngoại lai và vô ích-một kiến trúc thượng tuần- của chức linh mục mình, nhưng là một yêu sách nội tại phải tham gia vào phẩmgiá Chúa Kitô và vào việc phục vụ nhân loại đổi mới có nguồn gốc trong Người và vì Người, và đưa tới sự viên mãn.
Vậy bổn phận của tôi là khích lệ một sự chăm chú mới trong việc chọn lựa các ơn gọi đi chủng viện, sử dụng mọi phương cách có được hầu biết rõ các ứng viên, cách riêng về phương diện luân lý và tình cảm. Chớ chi không một giám mục nào cảm thấy mình miễn khỏi trách nhiệm lương tâm này mà ngài phải trả lẽ trực tiếp cho Chúa; điều đáng tiếc là, vì một hành vi khoan dung hiểu sai, người ta truyền chức cho những người trẻ chưa trưởng thành, hay cho thấy những dấu rõ ràng thuộc những lệch lạc tình cảm, những lệch lạc đó, như người ta biết than ôi, có thể sinh ra những điều dị thường trầmtrọng trong lương tâm dân tín hữu, với những thiệt hai dữ dội cho toàn thể Giáo hội.
Sự hiện hữu trong một số trường thần học, thậm chí trong một số chủng viện, những giáo sư không được chuẩn bị, có khi sống trong sự mâu thuẩn với Giáo hội. (sự hiện hữu đó) gây nên một sự buồn và áy náy sâu xa. Chúng ta trông cây vào lòng thương xót của Chúa Đấng hướng dẫn lương tâm các người trẻ quảng đại, nhưng không thể chấp nhận cho những người trẻ đang được đào tạo phải hứng chịu những lệch lạc của các nhà giáo dục và các giáo sư thiếu một sự hiệp thông giáo hội công khai và một bằng chứng rõ ràng tìm kiếm sự thánh thiện.
Những cuộc kinh lý tông đồ trong các chủng viện tự nó không có hiệu quả ý nghĩa và bền bỉ nếu các giám mục không tiến hành cách cương quyết đem vào ngay những thay đổi vị Kinh lý đòi hỏi. Sau hết điều hợp thời là những giám mục nào gởi các chủng sinh vào những chủng viện một giáo phận hay giáo tỉnh khác, phải biết rõ tinh thần của chủng viện và nâng đỡ toàn bộ chủng viện đó.
6. Không dư thừa nếu lập lại ở đây rằng qua môn thần học, linh mục tương lai gắn bó với Lời Chúa, lớn lên trong sự sống thiêng liêng và sẳn sàng hoàn thành nhiệm vụ mục tử” (Pastores dabo vobis, n. 51). Do dó cần có một sự theo dõi chăm chỉ và tỉnh thức tất cả đời sống của chủng sinh, nhưng cách riêng theo dõi việc học thần học, bởi vì chính Giám mục có nhiệm vụ canh chừng trên giáo lý tốt được dạy trong chủng viện.
Khoa giáo hội học, cũng như kitô học, ngày nay cách riêng là viên đá góc của một sự đào tạo lành mạnh các ứng viên linh mục. Việc học và dạy thần học có những yêu sách phát sinh từ bản tánh của nó, một trong những yêu ách này là, không gì phải nghi ngờ, khoa thần học phải giữ căn tính của nó trong Giáo hội, căn tánh này không tùy thuộc, vế thực chất, thời buổi lịch sử nó trải qua.
Những cố gắng, chắc hợp lệ và cần thiết, hầu kết hợp sứ điệp kitô hữu với tâm tính và cảm giác chủa con người tân thời, và trình bày chân lý đức tin như những dụng cụ ngoại suy của khoa triết học hiện nay, của những khoa học tích cực, hay là từ hoàn cảnh con người và xã hội đương thời, có thể, nếu không được kiểm soát đúng, làm nguy hại chính bản tánh của khoa thần học và nội dung đức tin. Điều cần thiết là lý trí, nâng đỡ bởi Lời Chúa và bởi sự hiểu biết lớn nhất về Ngưfời, được hướng dẫn tránh những con đường đưa nó ra ngoài Chân lý mạc khải” (Thông điệp Fides et ratio, n. 73).
Trong nhiều phần thế giới, xem ra tại Brésil cũng vậy, trong một số khoa hay học viện thần học có phổ biến một quan niệm méo mó về Giáo hội, theo những ý thức hệ quyết đinh, mà quên điều thiết yếu: Giáo hội là sư tham gia vào mầu nhiệm Chúa Kitô nhập thể. Đó là lý do phải khẩn cấp nhấn mạnh sao cho khoa thần học giữ được, trong Giáo hội, căn tính của nó.
Nguyên tắc diễn tả trong Hội công đồng, theo đó mầu nhiệm Chúa Kitô và lịch sử cứu rỗi phải là diểm qui tụ của những môn thần học khác biệt (x. Sắc lệnh Opyayam totius, n. 16) đã rõ có tính ngôn sứ thật sự. Chủ đề Giáo hội, như mầu nhiệm thần linh, không những làm thành chương đầu hiến chế Lumen Grntium, mà còn thấm nhiễm tất cả văn kiện. Các giám mục phải có một thái độ canh phòng, hầu những bài học thần học không chỉ là một cái nhìn nhân bản về Giáo hội giữa những con người.
Điều đó không ngăn cản khẳng dịnh mục đích mục vụ của những khoa học thần học, ngõ hầu “tất cả các phương diện đào tạo, thiêng liêng, trí thức và kỷ luật, được sắp xếp vì mục đích mục vụ này qua một hành động thống nhất, và tất cả các giám đốc và thầy giáo chăm theo đuổi mục đích này với lòng sốt sắng và hoà hợp, trung thành vâng theo quyền bính Giám mục” (Ibid. , n. 4).
Xét đến cùng, điều này đưa tới yếu tố thiết yếu, nằm ngay chính trung tâm khoa thần học, yếu tố truyền giáo. Công Cồng nói rất rõ về điều này, khi trong Sắc lệnh Ad Gentes về sinh hoạt truyền giáo, Công đồng khuyên các giáo sư chủng viện và các đại học luôn luôn đưa ra ánh sáng, cách riêng trong các môn tín lý, thánh kinh, luân lý và lịch sử, “ những phương diện truyền giáo hàm chứa trong đó, để nhờ đó đào tạo cho các linh mục tương lai một ý thức truyền giáo” (n. 38).
7. Chư huynh thân mến trong chức giám mục, cuối buổi gặp gỡ của chúng ta, tôi ngõ lời một lần nữa với quê hương yêu dấu của chư huynh và, cách riêng, tôi mời những người con trai của đất quốc gia de Rio và của thủ đô quốc gia này, mỗi người theo mức độ trách nhiệm riêng mình, dấn thân cách quyết định để xây dựng Nước Chúa trong thế giới này.
Trong buổi đầu ngàn năm này, tôi chúc cho tất cả một thời gian ân sủng báo hiệu một mùa xuân mới của đời sống kitô hữu và cho phép họ mạnh dạn đáp trả những tiếng gọi của Thần khí. Tôi phó thác cho Đức Trinh nữ Maria, Mẹ Đấng Cứu thế, thừa tác vụ của chư huynh và đời sống của các cộng đồng giao hội của chư huynh, xin Mẹ hướng dẫn bước chân chư huynh tới Con mẹ, Chúa Giêsu. Từ nơi thâm sâu nhất của đáy lòng tôi, tôi ban cho chư huynh Phép lành tông đồ, tôi trải dài phép lành này đến các linh mục và các chủng sinh, các tu sĩ nam và nữ, các giáo lý viên và tất cả tín hữu giáo phận.
Ðức giáo hoàng đã tiếp các giám mục Vùng “Ðông 1” Brésil đang viếng “mồ các Tông đồ” trong buổi sớm mai thứ năm ngày 5 septembre 2002, tại đền tông đồ Castelgandolfo. Trong buổi gặp gỡ, Ðức Thánh Cha đã đọc bài diễn văn sau đây:
Chư huynh thân mến trong chức giám mục,
1. Trong thời gian mạnh của thừa tác vụ giám mục của chư huynh thể hiện qua việc viếng thăm ad limina, tôi vui mùng đón tiếp chư huynh, là những người có trách nhiệm mục vụ Giáo hội trong Vùng “Ðông 1” Brésil, tùy thuộc vào Vùng này có các giáo phận Quốc gia Rio de Janeiro và “Liên hiệp Saint Jean Marie Vianney” mà tôi đã muốn xây dựng tại Campos, như chức Giám quản tông tòa cá nhân.
Chư huynh đã đến tỉnh tâm trên mộ các Tông đồ Phero và Phaolô, hầu phát triển trong bản thân chư huynh sự nhiệt tình tông đồ đã thúc đẩy và đưa các ngài tới đây để làm chứng nhân Tin Mừng Chúa Kitô, bằng cách chấp nhận hiến trọn vẹn sự sống mình. Khi gặp Giám mục Roma và các cọng tác viên của ngài, chư huynh cũng muốn bày tỏ sự hiệp thông của chư huynh với người Kế vị thánh Pherô và với Giáo hội phổ quát, Xin Chúa chúc lành sáng kiến của chư huynh và nâng đỡ chư huynh trong việc phục vụ dân đã được phó thác cho chư huynh.
Khi cám ơn Hồng Y Eugenio Sales về những lời hồng y đã nói với tôi, để diễn tả những tâm tình tôn kính và yêu mến, tôi chào tất cả những người hiện diện và, qua hồng y, tôi tưởng nhớ tới các linh mục, các tu sĩ nam và các tu sĩ nữ, các giáo lý viên và các người giáo dân khác giáo phận hồng y. Xin Chúa ban cho họ sức mạnh và sự bạo dạn làm những chứng nhân chăm chỉ về tình yêu của Chúa giữa anh em mình, trong mọi hoàn cảnh.
2. Tổng giáo phận Niterii, cũng như tổng giáo phận Rio de Janeiro, có một truyền thống giàu và năng động. Trong tổng giáo phận sau, từ bình minh lịch sử Brésil, khi đấng tiền nhiệm đáng kính của tôi, Giáo hoàng Grégoire III, sáng lập ngày 19 juillet 1575 hạt Phủ doãn Sao Sebasteio, cho tới nay, Giáo hội Công giáo đã cổ võ nhiều sáng kiến mục vụ, nhờ sự nhiệt tình quảng đại của những gương mặt trổi vượt như những gương mặt các hồng y Arcoverde, Sebastieio, Jaime de Barros Cmara và Eugenio Sales, chỉ mới trính một ít tên.
Tòa thánh Phero này ao ước kính chào tất cả những người, giám chức, giám mục và tổng giám mục của hai tổng giáo phận, những vị đã phục vụ sự nghiệp của Nước Chúa giữa dân quốc gia to lớn này, bằng cách làm mọc lên những hạt giống Lời, cho đến độ biến chúng thành một cây xanh tươi (x. Mt 13, 31-32). Ði theo truyền thống này, tôi cầu chúc cho “Vùng này” tiếp tục gây ảnh hưởng tích cực của mình trên toàn thể Giáo hội tại Brésil, bằng cách cổ võ một tinh thần mãnh liệt hiệp thông với hàng giám mục quốc gia và với Tòa Thánh. Tôi cũng nhân dịp này cầu chúc mọi sự lành cho Tổng giám mục de Rio de Janeiro, Ðức Cha Eusébio Oscar Scheid, lúc này ngài khỉ sự sứ vụ của ngài với tư cách một mục tử mới của tổng giáo phận.
3. Chính trong khuôn khổ những cầu chúc này mà tôi muốn nêu lên một số nhận xét về các chủng viện trong việc đào tạo các linh mục tương lai cho Brésil, vì đó là một ưu tiên tuyệt đối cho một việc mục vụ đổi mới và truyền giáo.
Cuộc gặp gỡ trọng đại năm 1992, tại Saint-Dominique, với hàng giám mục Mỹ-latinh còn đậm nét trong các ký ức. Những chủ đề được đề cập tới trong dịp này, liên can những hoàn cảnh và tình thế Giáo hội, vượt quá những ranh giới siết chặc của một hay nhiều nước. Trong những nước này, tôi lấy lại một trong những lý do chính tạo nên cuộc họp này. Nhơn dịp này, tôi đã nói “điều kiện cần thiết cho việc tân phúc âm hóa là có thể dựa vào số đông các nhà truyền giáo có đức tính. Do đó, việc cổ võ các ơn gọi linh mục và tu sĩ, cũng như việc cổ võ các tác nhân mục vụ khác phải được coi như một ưu tiên đối với các giám mục và một cam kết đối với toàn ghể dân Chúa” (Discours d inauguration, n. 26, x. ORLF n. 42 du 20 octobre 1992)
Gần 10 năm trôi qua, và chắc chắn đã hoàn thành được một việc làm to lớn theo chiều hướng này, cách riêng trên đất chư huynh, nơi sự gia tăng dân số tiến triển với một nhịp nhanh, và là nơi yêu sách ấn định những ranh giới mới giáo hội đã cố gắng đi theo cuộc tiến hóa này, với giá một cố gắng lớn. Khi nghĩ tới sự rộng lớn đất Brésil và tới sự thiếu linh mục, những người cọng tác trực tiếp trong thừa tác vụ ngôn sứ, tư tế và vương giả, tôi muốn chia sẻ với chư huynh, với tư cách người phải củng cố anh em mình trong đức tin, vấn đề nầy, vấn đề thuộc về Giáo hội phổ quát.
Tâm tình chúng ta phải như tâm tình của Chúa, Người “ thấy đoàn lũ thì thương và nói “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Mt 9, 37-38). Nhờ sự cầu nguyện, sự yếu hèn con người trở thành sức mạnh thần linh, bởi vì chúng ta có thể làm mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho chúng ta (x. Ph 4, 13).
Bí quyết đạt những kết quả tốt ở trong sức mạnh của Chúa và trong việc làm của con người, mà làm cách khôn ngoan. Những mục tử hợp nhất sức mạnh của mình, hoặc qua các chủng viện giáo phận mở cho các sinh viên các giáo phận khác hay là qua những chủng viện liên giáo phận, thì tỏ ra khôn ngoan, vì đã giữ được một hướng hiệp thông rõ ràng và xác định tốt với các luật lệ của Giáo hội phổ quát.
Những mục tử nào không do dự đặt trong “ao cá các linh mục” những “nhà nông” giỏi nhất của mình đã được chuẩn bị về mặt trí thức, thiêng liêng và mục vụ, hầu họ tạo thành nhóm người giáo dục Giáo hội cần, với con số thích hợp trong mổi chủng viện, thì tỏ ra khôn ngoan.
Phát triển các trung tâm đào tạo là một bằng chứng khôn ngoan; không coi thường phẩm chất của việc đào tạo để gia tăng số lượng, nhưng trong trí khôn vẫn nhớ tới mùa gặt bao la, là một sự khôn ngoan đáng khen.
4. Toà tông đồ chắc chắn tha thiết, trong sự hòa hợp với các Mục tử và Hội đồng quốc gia các Giám mục Brésil, đương đầu với những yêu sách thành lập hay phục hoạt các chủng viện trong những giáo tỉnh khác nhau. Trên thật tế, những cố gắng quan trọng nhất được tập trung trong những vùng đông-bắc của xứ, do hoàn cảnh kinh tế bấp bênh của các lãnh thổ và, do đó, do sự khó khăn thực sự của các giám mục để bảo đảm sinh hoạt và điều hành các chủng viện cách xứng hợp và hiệu nghiệm. Trong bối cảnh này, sự cam kết hầu có thể có được những cấu trúc, ít nhất cơ sở, để kêu gọi, tuyển chọn và đào tạo các ơn thiên triệu linh mục đang cần, thì chắc đáng hoan nghênh. Do đó, tôi đã theo sự tiến hóa của cái gì có thể trở thành một “chiến dịch” thực sự có lợi cho các chủng viện tại Brésil.
5. Trên thực tế, vấn đê này không hoàn toàn xa lạ đối với những vùng nơi có những cấu trúc tốt hơn không những để đào tạo, mà còn có tính vật chất. Như tôi đã nói trên, phát triển những trung tâm đào tạo thì chưa đủ nếu người ta không cố gắng nhấn mạnh về tinh thần gáo hội điều khiển chủng viện và về phẩm chất của việc dạy dỗ; người ta luôn luôn bù vào sự thiếu các phương tiện kinh tế bằng những cố gắng và thiện chí của mọi người, cũng còn của những sức sống của mổi giáo phận; cho nên tôi cầu xin Chúa vui lòng thưởng công tất cả những kẻ không tiết kiệm nhũng cố gắng mình và những kẻ không tiết kiệm những cố gắng đó để giúp các chủng viện, mà sự quản lý sẽ luôn luôn thiếu hụt.
Như vậy điều hợp thời là có một cái nhìn đức tin trên hoàn cảnh các ơn gọi linh mục. Đàng khác, chúng ta đứng trước thực tại gia tăng đầy an ủi của những ơn gọi linh mục, trong số lượng cũng như trong chất lượng. Có nhiều kinh nghiệm mới và đáng giá, như những ngày cho ơn gọi, cho sự nhân định ơn gọi, cho sự theo dõi các ứng viên có thể vào chủng viện, cũng như những kinh nghiệm khác. Người ta cũng nhận thấy sự gia tăng đầy an ủi những ơn gọi trong các giáo phận, mà các chủng viện tìm đi theo cách thẳng nhặt đường hướng của Công đồng Vatican II và của Tòa Thánh, và cách riêng Tông huấn Pastores dabo vobis, nhấn mạnh tới chiều kích nhân bản và tình cảm, thiêng liêng, trí thức và mục vụ. Những Đường hướng cơ bản của Hội đồng quốc gia Giám mục Brésil (n. 55) đã cung cấp những đóng góp giá trị trong chiều hướng này.
Nhưng, đàng khác, ảnh hưởng mà thế giới tân thời, với khuynh hướng “tục hóa” và khoái lạc, gây trên các người kitô hữu, nhất là giới trẻ, sẽ phải được đương đầu với một sự cương quyết lớn hơn hầu nhắc nhở và vun trồng, nơi những kẻ có ơn gọi, tình yêu sâu xa đối với Chúa Kitô và Vương quốc Người. Cần một sự đào tạo vững chắc về sự cầu nguyện và phụng vụ, nhờ đó mà Giáo hội tham gia, ngay từ bây giờ, vào phụng vụ trong vinh quang Thiên đàng.
Do đó, lòng trung với giáo lý về sự độc thân linh mục vì Nước Trời phải được Giáo hội kính trọng, nhất là trong đời sống linh mục (x. Presbyterorum ordinis, 16), khi nói về sự nhận định nơi các ứng viên linh mục lời gọi hiến dâng mình vô điều kiện và hoàn toàn. Cần nhắc cho họ nhớ rằng sự độc thân không phải là một yếu tố ngoại lai và vô ích-một kiến trúc thượng tuần- của chức linh mục mình, nhưng là một yêu sách nội tại phải tham gia vào phẩmgiá Chúa Kitô và vào việc phục vụ nhân loại đổi mới có nguồn gốc trong Người và vì Người, và đưa tới sự viên mãn.
Vậy bổn phận của tôi là khích lệ một sự chăm chú mới trong việc chọn lựa các ơn gọi đi chủng viện, sử dụng mọi phương cách có được hầu biết rõ các ứng viên, cách riêng về phương diện luân lý và tình cảm. Chớ chi không một giám mục nào cảm thấy mình miễn khỏi trách nhiệm lương tâm này mà ngài phải trả lẽ trực tiếp cho Chúa; điều đáng tiếc là, vì một hành vi khoan dung hiểu sai, người ta truyền chức cho những người trẻ chưa trưởng thành, hay cho thấy những dấu rõ ràng thuộc những lệch lạc tình cảm, những lệch lạc đó, như người ta biết than ôi, có thể sinh ra những điều dị thường trầmtrọng trong lương tâm dân tín hữu, với những thiệt hai dữ dội cho toàn thể Giáo hội.
Sự hiện hữu trong một số trường thần học, thậm chí trong một số chủng viện, những giáo sư không được chuẩn bị, có khi sống trong sự mâu thuẩn với Giáo hội. (sự hiện hữu đó) gây nên một sự buồn và áy náy sâu xa. Chúng ta trông cây vào lòng thương xót của Chúa Đấng hướng dẫn lương tâm các người trẻ quảng đại, nhưng không thể chấp nhận cho những người trẻ đang được đào tạo phải hứng chịu những lệch lạc của các nhà giáo dục và các giáo sư thiếu một sự hiệp thông giáo hội công khai và một bằng chứng rõ ràng tìm kiếm sự thánh thiện.
Những cuộc kinh lý tông đồ trong các chủng viện tự nó không có hiệu quả ý nghĩa và bền bỉ nếu các giám mục không tiến hành cách cương quyết đem vào ngay những thay đổi vị Kinh lý đòi hỏi. Sau hết điều hợp thời là những giám mục nào gởi các chủng sinh vào những chủng viện một giáo phận hay giáo tỉnh khác, phải biết rõ tinh thần của chủng viện và nâng đỡ toàn bộ chủng viện đó.
6. Không dư thừa nếu lập lại ở đây rằng qua môn thần học, linh mục tương lai gắn bó với Lời Chúa, lớn lên trong sự sống thiêng liêng và sẳn sàng hoàn thành nhiệm vụ mục tử” (Pastores dabo vobis, n. 51). Do dó cần có một sự theo dõi chăm chỉ và tỉnh thức tất cả đời sống của chủng sinh, nhưng cách riêng theo dõi việc học thần học, bởi vì chính Giám mục có nhiệm vụ canh chừng trên giáo lý tốt được dạy trong chủng viện.
Khoa giáo hội học, cũng như kitô học, ngày nay cách riêng là viên đá góc của một sự đào tạo lành mạnh các ứng viên linh mục. Việc học và dạy thần học có những yêu sách phát sinh từ bản tánh của nó, một trong những yêu ách này là, không gì phải nghi ngờ, khoa thần học phải giữ căn tính của nó trong Giáo hội, căn tánh này không tùy thuộc, vế thực chất, thời buổi lịch sử nó trải qua.
Những cố gắng, chắc hợp lệ và cần thiết, hầu kết hợp sứ điệp kitô hữu với tâm tính và cảm giác chủa con người tân thời, và trình bày chân lý đức tin như những dụng cụ ngoại suy của khoa triết học hiện nay, của những khoa học tích cực, hay là từ hoàn cảnh con người và xã hội đương thời, có thể, nếu không được kiểm soát đúng, làm nguy hại chính bản tánh của khoa thần học và nội dung đức tin. Điều cần thiết là lý trí, nâng đỡ bởi Lời Chúa và bởi sự hiểu biết lớn nhất về Ngưfời, được hướng dẫn tránh những con đường đưa nó ra ngoài Chân lý mạc khải” (Thông điệp Fides et ratio, n. 73).
Trong nhiều phần thế giới, xem ra tại Brésil cũng vậy, trong một số khoa hay học viện thần học có phổ biến một quan niệm méo mó về Giáo hội, theo những ý thức hệ quyết đinh, mà quên điều thiết yếu: Giáo hội là sư tham gia vào mầu nhiệm Chúa Kitô nhập thể. Đó là lý do phải khẩn cấp nhấn mạnh sao cho khoa thần học giữ được, trong Giáo hội, căn tính của nó.
Nguyên tắc diễn tả trong Hội công đồng, theo đó mầu nhiệm Chúa Kitô và lịch sử cứu rỗi phải là diểm qui tụ của những môn thần học khác biệt (x. Sắc lệnh Opyayam totius, n. 16) đã rõ có tính ngôn sứ thật sự. Chủ đề Giáo hội, như mầu nhiệm thần linh, không những làm thành chương đầu hiến chế Lumen Grntium, mà còn thấm nhiễm tất cả văn kiện. Các giám mục phải có một thái độ canh phòng, hầu những bài học thần học không chỉ là một cái nhìn nhân bản về Giáo hội giữa những con người.
Điều đó không ngăn cản khẳng dịnh mục đích mục vụ của những khoa học thần học, ngõ hầu “tất cả các phương diện đào tạo, thiêng liêng, trí thức và kỷ luật, được sắp xếp vì mục đích mục vụ này qua một hành động thống nhất, và tất cả các giám đốc và thầy giáo chăm theo đuổi mục đích này với lòng sốt sắng và hoà hợp, trung thành vâng theo quyền bính Giám mục” (Ibid. , n. 4).
Xét đến cùng, điều này đưa tới yếu tố thiết yếu, nằm ngay chính trung tâm khoa thần học, yếu tố truyền giáo. Công Cồng nói rất rõ về điều này, khi trong Sắc lệnh Ad Gentes về sinh hoạt truyền giáo, Công đồng khuyên các giáo sư chủng viện và các đại học luôn luôn đưa ra ánh sáng, cách riêng trong các môn tín lý, thánh kinh, luân lý và lịch sử, “ những phương diện truyền giáo hàm chứa trong đó, để nhờ đó đào tạo cho các linh mục tương lai một ý thức truyền giáo” (n. 38).
7. Chư huynh thân mến trong chức giám mục, cuối buổi gặp gỡ của chúng ta, tôi ngõ lời một lần nữa với quê hương yêu dấu của chư huynh và, cách riêng, tôi mời những người con trai của đất quốc gia de Rio và của thủ đô quốc gia này, mỗi người theo mức độ trách nhiệm riêng mình, dấn thân cách quyết định để xây dựng Nước Chúa trong thế giới này.
Trong buổi đầu ngàn năm này, tôi chúc cho tất cả một thời gian ân sủng báo hiệu một mùa xuân mới của đời sống kitô hữu và cho phép họ mạnh dạn đáp trả những tiếng gọi của Thần khí. Tôi phó thác cho Đức Trinh nữ Maria, Mẹ Đấng Cứu thế, thừa tác vụ của chư huynh và đời sống của các cộng đồng giao hội của chư huynh, xin Mẹ hướng dẫn bước chân chư huynh tới Con mẹ, Chúa Giêsu. Từ nơi thâm sâu nhất của đáy lòng tôi, tôi ban cho chư huynh Phép lành tông đồ, tôi trải dài phép lành này đến các linh mục và các chủng sinh, các tu sĩ nam và nữ, các giáo lý viên và tất cả tín hữu giáo phận.