(Vatican 16/12/2004). Lúc 11 giờ sáng 16/12/2004 tại Vatican, Đức Hồng Y Renato Martino, chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Công Lý và Hòa Bình đã mở cuộc họp báo giới thiệu thông điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới 2005 của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, được cử hành vào ngày 1/1/2005 tới đây với đề tài là một câu trích từ thư Thánh Phaolô gởi các tín hữu Rôma “Anh em đừng để sự dữ lấn lướt, nhưng hãy chiến thắng sự dữ bằng điều thiện” (Rm 12:21).
Đức Hồng Y nhận định rằng “Qua câu nói trên đây Thánh Phaolô Tông Đồ mời gọi chúng ta thực hiện một cuộc phân định cá nhân cũng như cộng đoàn về những vấn đề quyết định liên quan đến sự dữ và ảnh hưởng thê thảm của nó trong đời sống con người. Thánh nhân nhắn nhủ hãy thực hiện và phổ biến điều thiện với một trách nhiệm trưởng thành. Toàn thể thông điệp của Đức Thánh Cha đã dùng thư của Thánh Phaolô gởi các tín hữu Rôma như một hướng đi để đề cập đến vấn đề hòa bình và đặt nó trong một suy tư về sự dữ và sự thiện”.
Đức Thánh Cha viết viễn tượng của “Vị Đại Tông Đồ này đem đến một sự thật nền tảng: hòa bình là thành quả của một cuộc chiến lâu dài và cam go mà chỉ có thể thắng khi sự dữ bị khuất phục bởi điều thiện. Khi chúng ta nhìn đến thảm cảnh của những cuộc xung đột huynh đệ tương tàn trên nhiều miền của thế giới, và những đau khổ, bất công không sao kể xiết mà chúng gây ra, lựa chọn duy nhất có tính xây dựng thực sự, như Thánh Phaolô đưa ra, là anh em hãy gớm ghét điều dữ, tha thiết với điều lành (x. Rm 12:9)”.
Trong bối cảnh đó, hòa bình được định nghĩa như một thiện ích cần phải được thăng tiến bằng điều thiện. Hòa bình “là điều thiện hảo cho cá nhân, cho gia đình, cho quốc gia và cho toàn nhân loại; tuy nhiên đó là điều cần phải được duy trì và vun trồng bởi những quyết định và những hành động được linh hứng hởi điều thiện”.
Đức Hồng Y Martino nhận định rằng thông điệp của Đức Thánh Cha gồm ba phần, trong đó đề tài hòa bình lần lượt được bàn đến trong tương quan với những khía cạnh và bình diện khác nhau của điều thiện. Trong phần thứ nhất, hòa bình được xét đến trong tương quan với sự thiện luân lý. Trong phần thứ hai hòa bình được nhìn trong tương quan với một nguyên tắc tiêu biểu của đạo lý xã hội Hội Thánh. Đó là nguyên tắc về công ích. Trong phần thứ ba, hòa bình được bàn đến trong quan hệ chặt chẽ với việc sử dụng những của cải trái đất và có sự tham chiếu thích hợp đến một nguyên tắc khác của giáo huấn xã hội Công Giáo theo đó mọi tài nguyên Chúa dựng nên là để cho tất cả mọi người: “Thiên Chúa muốn thế giới và tất cả những tài nguyên của nó phải được dùng cho mọi người và mọi dân tộc; sao cho các tài nguyên thiên nhiên được chia sẻ đồng đều cho mọi người, theo sự hướng dẫn của công lý đi kèm với bác ái”.
Trong phần thứ nhất, Đức Thánh Cha bác bỏ mọi lối giải thích lịch sử theo đó sự dữ trong thế gian này là một động lực khách quan, phi nhân cách hay đã được tiền định ra như vậy. Sự dữ là “hệ quả của sự tự do của con người. Tự do, điều phân biệt con người với những loài thọ tạo khác trên thế giới, luôn hiện diện nơi trung tâm của thảm trạng sự dữ. Sự dữ luôn có một danh xưng và một khuôn mặt: đó là danh xưng và dung mạo của những người nam nữ lựa chọn nó cách tự do. Thánh Kinh dạy chúng ta rằng ở buổi sơ khai của lịch sử nhân loại, Ađam và Evà đã phản nghịch cùng Thiên Chúa, và Abel đã giết Cain, em mình (x. Sáng Thế 3-4). Đây là những lựa chọn sai lầm, được tiếp nối bởi vô vàn những điều khác nữa trong những thế kỷ tiếp theo. Mỗi một lựa chọn này có một chiều kích luân lý nội tại, liên quan đến những trách nhiệm cá nhân và mối liên hệ căn bản cá vị của mỗi người với Thiên Chúa, với tha nhân và với tất cả những thụ tạo.”
Bàn về quan hệ giữa sự dữ, sự thiện và yêu thương, Đức Thánh Cha nhận định: “Ở mức thâm sâu nhất, sự dữ là sự khước từ bi đát những đòi hỏi của yêu thương.(1)Sự thiện luân lý, ngược lại, được sinh ra trong yêu thương, tỏ lộ chính mình như tình yêu và hướng về tình yêu. Tất cả điều này đặc biệt hiển nhiên với những người Kitô hữu, là những người biết rằng tư cách thành viên trong Nhiệm Thể Chúa Kitô đặt họ vào một mối quan hệ đặc biệt không chỉ với Thiên Chúa nhưng còn với anh chị em của mình. Luận lý nội tại của tình yêu Kitô Giáo, theo Tin Mừng là nguồn sinh lực cho những hành vi luân lý thiện hảo, dẫn đến việc yêu thương kể cả kẻ thù: ’kẻ thù ngươi có đói, hãy cho nó ăn; có khát, hãy cho nó uống’ (Rm 12:20).”
Dựa trên phân tích về mối tương quan giữa sự dữ, sự thiện và yêu thương, Đức Thánh Cha khẳng định rằng “Để đạt đến thiện ích của hòa bình, cần phải có một sự nhìn nhận rõ ràng và đầy ý thức rằng bạo lực là tội ác không thể chấp nhận được và nó không bao giờ giải quyết được những vấn nạn. ‘Bạo lực là điều dối trá, vì nó đi ngược lại sự thật của đức tin chúng ta, sự thật của nhân loại chúng ta. Bạo lực hủy diệt điều mà nó tuyên bố bảo vệ: phẩm giá, sinh mạng, và tự do của con người’. Điều cần thiết là một nỗ lực to lớn để hình thành lương tâm và giáo dục thế hệ trẻ về những điều thiện qua việc đề cao chủ nghĩa nhân bản hội nhập và huynh đệ mà Giáo Hội công bố và đề cao. Đây là nền tảng cho một trật tự xã hội, kinh tế và chính trị tôn trọng phẩm giá con người, tự do và các quyền căn bản của mỗi cá nhân.”
Trong phần thứ hai, Đức Thánh Cha bàn đến hòa bình trong tương quan với thiện ích chung. Hoà bình không thể nào đạt được trên luận lý “mạnh được yếu thua”, “sống chết mặc bay”. Trái lại, Đức Thánh Cha khẳng định muốn có hòa bình, trong phạm vi xã hội, mỗi người phải “thường xuyên để ý đến thiện ích của người khác như là thiện ích của chính mình. Trách nhiệm này cách riêng thuộc về những nhà cầm quyền chính trị ở mọi cấp, vì họ được mời gọi để tạo ra tổng hợp những điều kiện xã hội cho phép và nuôi dưỡng nơi mọi người sự phát triển toàn diện của họ.”.Quan hệ giữa các dân nước cũng vậy, “Thiện ích chung, đòi buộc sự tôn trọng đối với sự thăng tiến toàn diện của cá nhân và những quyền căn bản của họ, cũng như đòi buộc phải tôn trọng sự thăng tiến quyền lợi các quốc gia trên hoàn vũ. Về phương diện này, Công Đồng Chung Vatican II đã nhận xét rằng ‘sự phụ thuộc tương tác ngày một gần gũi đang dần dà bao trùm toàn thế giới sẽ dẫn đến một thiện ích chung phổ quát hơn.. và điều này lôi kéo theo những quyền lợi và bổn phận trên quy mô toàn nhân loại. Mỗi một nhóm xã hội cần phải tính đến các nhu cầu và những khát vọng hợp pháp của các nhóm khác cũng như thiện ích chung của toàn nhân loại’. Thiện ích của toàn nhân loại như một tổng thể, bao gồm cả những thế hệ tương lai, đòi hỏi sự hợp tác quốc tế thật sự, theo đó mỗi nước cần phải đưa ra những cống hiến của mình.”
Đức Thánh Cha cũng thẳng thắn bác bỏ một số quan điểm có khuynh hướng giản lược hóa đã “trình bày thiện ích chung như một tình trạng kinh tế-xã hội thịnh vượng thuần tuý, thiếu mất mục đích siêu việt, và như thế đánh mất đi ý nghĩa sâu sa nhất của nó.” Đức Thánh Cha khẳng định “thiện ích chung có một chiều kích siêu việt, vì Thiên Chúa là cùng đích của mọi tạo vật do Ngài dựng nên. Người Kitô hữu biết rằng Đức Kitô đã dõi chiếu ánh sáng tỏ tường trên cách thức làm sao thiện ích chung của nhân loại có thể đạt được. Những hành trình lịch sử hướng về Đức Kitô và trong Ngài tìm thấy được cùng đích của nó: bởi vì nơi Chúa Kitô, qua Chúa Kitô và nhờ Chúa Kitô mọi thực tại nhân loại có thể được dẫn đến sự viên mãn hoàn toàn nơi Thiên Chúa.”
Trong phần thứ ba, Đức Thánh Cha đã nhắc đến khái niệm “công dân thế giới”, một điều ngài đã từng trình bày tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. “Là thành viên của gia đình nhân loại, mỗi người trở nên công dân của thế giới, với những bổn phận và quyền lợi đi kèm, vì tất cả nhân loại được liên kết bởi một nguồn gốc chung và có cùng một phẩm giá cao trọng”. Với đà gia tăng của hiện tượng toàn cầu hóa, các nước càng ngày càng có những phụ thuộc tương tác với nhau đến mức hòa bình và an ninh của một nước ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự ổn định chung trong vùng và trên thế giới.
Những vấn đề cam go nhất đe dọa nền hòa bình thế giới hiện nay là vấn đề sử dụng của cải trái đất, vấn đề hợp tác quốc tế, chia sẻ tiến bộ kỹ thuật, tình liên đới, thảm trạng nghèo đói tột cùng của một số nước và vấn đề nợ nước ngoài chồng chất.
Theo Đức Thánh Cha, “thiện ích của hòa bình có liên hệ chặt chẽ với sự phát triển của tất cả các dân tộc, những yêu cầu luân lý cho việc sử dụng các tài nguyên của trái đất luôn phải được tính đến. Công Đồng Vatican II đã nhắc nhở thật chính đáng rằng ‘Thiên Chúa muốn thế giới và tất cả những tài nguyên của nó phải được dùng cho mọi người và mọi dân tộc; sao cho các tài nguyên thiên nhiên được chia sẻ đồng đều cho mọi người, theo sự hướng dẫn của công lý đi kèm với bác ái’.”
Đức Thánh Cha đã trưng dẫn Phi Châu như một bằng chứng hùng hồn cho thấy trái với những hứa hẹn tốt đẹp được lặp đi lặp lại nhiều lần, tình liên đới và sự hợp tác quốc tế dành cho đại lục này còn chủ yếu trên môi miệng. Đức Thánh Cha ghi nhận “cơ man những khó khăn trên đường phát triển của Phi Châu: vô số những cuộc xung đột vũ trang, các dịch bệnh gây ra bởi nghèo đói tột độ, và sự bất ổn chính trị đang dẫn đến tình trạng bất an lan rộng. Đó là những thảm trạng đòi hỏi một hướng đi cấp tiến mới cho Phi Châu: trong đó có nhu cầu phải hình thành những hình thái liên đới mới, ở các cấp độ song phương và đa phương, thông qua một sự cam kết với quyết tâm hơn nữa của tất cả mọi phía, với niềm xác tín hoàn toàn rằng sự thịnh vượng của các dân tộc Phi Châu là một điều kiện thiết yếu cho sự đạt đến thiện ích chung toàn cầu”.
Đức Thánh Cha cảnh cáo rằng: “Ngày nay, hơn bao giờ hết, điều có tính chất quyết định mang lại hòa bình cho thế giới là việc nhìn nhận các phụ thuộc tương tác giữa các nước giàu và các nước nghèo, đến mức ‘sự phát triển hoặc là được chia sẻ ở mọi miền trên thế giới, hoặc là sẽ dẫn đến một tiến trình suy thoái ngay cả tại các miền được ghi dấu bởi sự tiến bộ không ngừng’”.
Trong phần kết luận, Đức Thánh Cha nhắc nhở các tín hữu đừng đánh mất đi niềm hy vọng. “Mặc dầu ‘mầu nhiệm của sự ác’ (2 Th 2:27) vẫn hiện diện và tác quái trong thế giới, chúng ta không được quên rằng nhân loại đã được cứu chuộc có thể chống lại nó. Mỗi tín hữu, đã được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa và được cứu chuộc bởi Đức Kitô, ‘Đấng cách nào đó đã liên kết chính mình với mỗi người’, có thể hợp tác vào chiến thắng của sự thiện. Tác động của ‘Thánh Thần Thiên Chúa ngập tràn trái đất’ (x Kn 1:7). “.
Vì thế, “Các Kitô hữu, đặc biệt anh chị em giáo dân”, “không thể chôn kín niềm hy vọng của họ trong thẳm sâu tâm hồn, nhưng phải diễn tả ra qua các cấu trúc cuộc sống trần gian của họ trong sự hoán cải liên tục và trong cuộc chiến ‘chống lại các quyền lực tối tăm của thế giới, chống lại các thế lực tinh thần của sự dữ’. (Eph 6:12)”
Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Không một người nam nữ thiện chí nào có thể từ bỏ cuộc đấu tranh chiến thắng sự dữ bằng điều thiện. Cuộc chiến này chỉ có thể có hiệu quả với vũ khí yêu thương. Khi điều thiện chiến thắng sự dữ, tình yêu thắng thế và nơi đâu tình yêu thắng thế, nơi đó có hòa bình.”.
Đức Thánh Cha cũng nhắc đến năm nay Giáo Hội đang cử hành năm Thánh Thể. Đức Thánh Cha cầu mong “mọi con cái nam nữ của Giáo Hội tìm thấy nơi bí tích cao cả của tình yêu này nguồn mạch của mọi sự hiệp thông: hiệp thông với Đức Giêsu Cứu Thế và, trong Ngài, hiệp thông với mỗi con người. Qua cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô, hiện diện cách bí tích trong mỗi buổi cử hành Thánh Thể, chúng ta được cứu khỏi sự dữ và có thể thực thi điều thiện. Qua cuộc sống mới mà Đức Kitô ban cho, chúng ta có thể nhận ra người khác là anh chị em của mình, bất chấp mọi khác biệt về ngôn ngữ, quốc tịch, và văn hóa. Tóm lại, qua việc chia sẻ trong cùng một bánh và cùng một chén, chúng ta đi đến nhận thức rằng chúng ta là “gia đình của Thiên Chúa” và rằng cùng nhau chúng ta có thể đưa ra cống hiến có hiệu quả để xây dựng một thế giới trên cơ sở các giá trị công lý, tự do và hòa bình.”
Đức Hồng Y nhận định rằng “Qua câu nói trên đây Thánh Phaolô Tông Đồ mời gọi chúng ta thực hiện một cuộc phân định cá nhân cũng như cộng đoàn về những vấn đề quyết định liên quan đến sự dữ và ảnh hưởng thê thảm của nó trong đời sống con người. Thánh nhân nhắn nhủ hãy thực hiện và phổ biến điều thiện với một trách nhiệm trưởng thành. Toàn thể thông điệp của Đức Thánh Cha đã dùng thư của Thánh Phaolô gởi các tín hữu Rôma như một hướng đi để đề cập đến vấn đề hòa bình và đặt nó trong một suy tư về sự dữ và sự thiện”.
Đức Thánh Cha viết viễn tượng của “Vị Đại Tông Đồ này đem đến một sự thật nền tảng: hòa bình là thành quả của một cuộc chiến lâu dài và cam go mà chỉ có thể thắng khi sự dữ bị khuất phục bởi điều thiện. Khi chúng ta nhìn đến thảm cảnh của những cuộc xung đột huynh đệ tương tàn trên nhiều miền của thế giới, và những đau khổ, bất công không sao kể xiết mà chúng gây ra, lựa chọn duy nhất có tính xây dựng thực sự, như Thánh Phaolô đưa ra, là anh em hãy gớm ghét điều dữ, tha thiết với điều lành (x. Rm 12:9)”.
Trong bối cảnh đó, hòa bình được định nghĩa như một thiện ích cần phải được thăng tiến bằng điều thiện. Hòa bình “là điều thiện hảo cho cá nhân, cho gia đình, cho quốc gia và cho toàn nhân loại; tuy nhiên đó là điều cần phải được duy trì và vun trồng bởi những quyết định và những hành động được linh hứng hởi điều thiện”.
Đức Hồng Y Martino nhận định rằng thông điệp của Đức Thánh Cha gồm ba phần, trong đó đề tài hòa bình lần lượt được bàn đến trong tương quan với những khía cạnh và bình diện khác nhau của điều thiện. Trong phần thứ nhất, hòa bình được xét đến trong tương quan với sự thiện luân lý. Trong phần thứ hai hòa bình được nhìn trong tương quan với một nguyên tắc tiêu biểu của đạo lý xã hội Hội Thánh. Đó là nguyên tắc về công ích. Trong phần thứ ba, hòa bình được bàn đến trong quan hệ chặt chẽ với việc sử dụng những của cải trái đất và có sự tham chiếu thích hợp đến một nguyên tắc khác của giáo huấn xã hội Công Giáo theo đó mọi tài nguyên Chúa dựng nên là để cho tất cả mọi người: “Thiên Chúa muốn thế giới và tất cả những tài nguyên của nó phải được dùng cho mọi người và mọi dân tộc; sao cho các tài nguyên thiên nhiên được chia sẻ đồng đều cho mọi người, theo sự hướng dẫn của công lý đi kèm với bác ái”.
Trong phần thứ nhất, Đức Thánh Cha bác bỏ mọi lối giải thích lịch sử theo đó sự dữ trong thế gian này là một động lực khách quan, phi nhân cách hay đã được tiền định ra như vậy. Sự dữ là “hệ quả của sự tự do của con người. Tự do, điều phân biệt con người với những loài thọ tạo khác trên thế giới, luôn hiện diện nơi trung tâm của thảm trạng sự dữ. Sự dữ luôn có một danh xưng và một khuôn mặt: đó là danh xưng và dung mạo của những người nam nữ lựa chọn nó cách tự do. Thánh Kinh dạy chúng ta rằng ở buổi sơ khai của lịch sử nhân loại, Ađam và Evà đã phản nghịch cùng Thiên Chúa, và Abel đã giết Cain, em mình (x. Sáng Thế 3-4). Đây là những lựa chọn sai lầm, được tiếp nối bởi vô vàn những điều khác nữa trong những thế kỷ tiếp theo. Mỗi một lựa chọn này có một chiều kích luân lý nội tại, liên quan đến những trách nhiệm cá nhân và mối liên hệ căn bản cá vị của mỗi người với Thiên Chúa, với tha nhân và với tất cả những thụ tạo.”
Bàn về quan hệ giữa sự dữ, sự thiện và yêu thương, Đức Thánh Cha nhận định: “Ở mức thâm sâu nhất, sự dữ là sự khước từ bi đát những đòi hỏi của yêu thương.(1)Sự thiện luân lý, ngược lại, được sinh ra trong yêu thương, tỏ lộ chính mình như tình yêu và hướng về tình yêu. Tất cả điều này đặc biệt hiển nhiên với những người Kitô hữu, là những người biết rằng tư cách thành viên trong Nhiệm Thể Chúa Kitô đặt họ vào một mối quan hệ đặc biệt không chỉ với Thiên Chúa nhưng còn với anh chị em của mình. Luận lý nội tại của tình yêu Kitô Giáo, theo Tin Mừng là nguồn sinh lực cho những hành vi luân lý thiện hảo, dẫn đến việc yêu thương kể cả kẻ thù: ’kẻ thù ngươi có đói, hãy cho nó ăn; có khát, hãy cho nó uống’ (Rm 12:20).”
Dựa trên phân tích về mối tương quan giữa sự dữ, sự thiện và yêu thương, Đức Thánh Cha khẳng định rằng “Để đạt đến thiện ích của hòa bình, cần phải có một sự nhìn nhận rõ ràng và đầy ý thức rằng bạo lực là tội ác không thể chấp nhận được và nó không bao giờ giải quyết được những vấn nạn. ‘Bạo lực là điều dối trá, vì nó đi ngược lại sự thật của đức tin chúng ta, sự thật của nhân loại chúng ta. Bạo lực hủy diệt điều mà nó tuyên bố bảo vệ: phẩm giá, sinh mạng, và tự do của con người’. Điều cần thiết là một nỗ lực to lớn để hình thành lương tâm và giáo dục thế hệ trẻ về những điều thiện qua việc đề cao chủ nghĩa nhân bản hội nhập và huynh đệ mà Giáo Hội công bố và đề cao. Đây là nền tảng cho một trật tự xã hội, kinh tế và chính trị tôn trọng phẩm giá con người, tự do và các quyền căn bản của mỗi cá nhân.”
Trong phần thứ hai, Đức Thánh Cha bàn đến hòa bình trong tương quan với thiện ích chung. Hoà bình không thể nào đạt được trên luận lý “mạnh được yếu thua”, “sống chết mặc bay”. Trái lại, Đức Thánh Cha khẳng định muốn có hòa bình, trong phạm vi xã hội, mỗi người phải “thường xuyên để ý đến thiện ích của người khác như là thiện ích của chính mình. Trách nhiệm này cách riêng thuộc về những nhà cầm quyền chính trị ở mọi cấp, vì họ được mời gọi để tạo ra tổng hợp những điều kiện xã hội cho phép và nuôi dưỡng nơi mọi người sự phát triển toàn diện của họ.”.Quan hệ giữa các dân nước cũng vậy, “Thiện ích chung, đòi buộc sự tôn trọng đối với sự thăng tiến toàn diện của cá nhân và những quyền căn bản của họ, cũng như đòi buộc phải tôn trọng sự thăng tiến quyền lợi các quốc gia trên hoàn vũ. Về phương diện này, Công Đồng Chung Vatican II đã nhận xét rằng ‘sự phụ thuộc tương tác ngày một gần gũi đang dần dà bao trùm toàn thế giới sẽ dẫn đến một thiện ích chung phổ quát hơn.. và điều này lôi kéo theo những quyền lợi và bổn phận trên quy mô toàn nhân loại. Mỗi một nhóm xã hội cần phải tính đến các nhu cầu và những khát vọng hợp pháp của các nhóm khác cũng như thiện ích chung của toàn nhân loại’. Thiện ích của toàn nhân loại như một tổng thể, bao gồm cả những thế hệ tương lai, đòi hỏi sự hợp tác quốc tế thật sự, theo đó mỗi nước cần phải đưa ra những cống hiến của mình.”
Đức Thánh Cha cũng thẳng thắn bác bỏ một số quan điểm có khuynh hướng giản lược hóa đã “trình bày thiện ích chung như một tình trạng kinh tế-xã hội thịnh vượng thuần tuý, thiếu mất mục đích siêu việt, và như thế đánh mất đi ý nghĩa sâu sa nhất của nó.” Đức Thánh Cha khẳng định “thiện ích chung có một chiều kích siêu việt, vì Thiên Chúa là cùng đích của mọi tạo vật do Ngài dựng nên. Người Kitô hữu biết rằng Đức Kitô đã dõi chiếu ánh sáng tỏ tường trên cách thức làm sao thiện ích chung của nhân loại có thể đạt được. Những hành trình lịch sử hướng về Đức Kitô và trong Ngài tìm thấy được cùng đích của nó: bởi vì nơi Chúa Kitô, qua Chúa Kitô và nhờ Chúa Kitô mọi thực tại nhân loại có thể được dẫn đến sự viên mãn hoàn toàn nơi Thiên Chúa.”
Trong phần thứ ba, Đức Thánh Cha đã nhắc đến khái niệm “công dân thế giới”, một điều ngài đã từng trình bày tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. “Là thành viên của gia đình nhân loại, mỗi người trở nên công dân của thế giới, với những bổn phận và quyền lợi đi kèm, vì tất cả nhân loại được liên kết bởi một nguồn gốc chung và có cùng một phẩm giá cao trọng”. Với đà gia tăng của hiện tượng toàn cầu hóa, các nước càng ngày càng có những phụ thuộc tương tác với nhau đến mức hòa bình và an ninh của một nước ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự ổn định chung trong vùng và trên thế giới.
Những vấn đề cam go nhất đe dọa nền hòa bình thế giới hiện nay là vấn đề sử dụng của cải trái đất, vấn đề hợp tác quốc tế, chia sẻ tiến bộ kỹ thuật, tình liên đới, thảm trạng nghèo đói tột cùng của một số nước và vấn đề nợ nước ngoài chồng chất.
Theo Đức Thánh Cha, “thiện ích của hòa bình có liên hệ chặt chẽ với sự phát triển của tất cả các dân tộc, những yêu cầu luân lý cho việc sử dụng các tài nguyên của trái đất luôn phải được tính đến. Công Đồng Vatican II đã nhắc nhở thật chính đáng rằng ‘Thiên Chúa muốn thế giới và tất cả những tài nguyên của nó phải được dùng cho mọi người và mọi dân tộc; sao cho các tài nguyên thiên nhiên được chia sẻ đồng đều cho mọi người, theo sự hướng dẫn của công lý đi kèm với bác ái’.”
Đức Thánh Cha đã trưng dẫn Phi Châu như một bằng chứng hùng hồn cho thấy trái với những hứa hẹn tốt đẹp được lặp đi lặp lại nhiều lần, tình liên đới và sự hợp tác quốc tế dành cho đại lục này còn chủ yếu trên môi miệng. Đức Thánh Cha ghi nhận “cơ man những khó khăn trên đường phát triển của Phi Châu: vô số những cuộc xung đột vũ trang, các dịch bệnh gây ra bởi nghèo đói tột độ, và sự bất ổn chính trị đang dẫn đến tình trạng bất an lan rộng. Đó là những thảm trạng đòi hỏi một hướng đi cấp tiến mới cho Phi Châu: trong đó có nhu cầu phải hình thành những hình thái liên đới mới, ở các cấp độ song phương và đa phương, thông qua một sự cam kết với quyết tâm hơn nữa của tất cả mọi phía, với niềm xác tín hoàn toàn rằng sự thịnh vượng của các dân tộc Phi Châu là một điều kiện thiết yếu cho sự đạt đến thiện ích chung toàn cầu”.
Đức Thánh Cha cảnh cáo rằng: “Ngày nay, hơn bao giờ hết, điều có tính chất quyết định mang lại hòa bình cho thế giới là việc nhìn nhận các phụ thuộc tương tác giữa các nước giàu và các nước nghèo, đến mức ‘sự phát triển hoặc là được chia sẻ ở mọi miền trên thế giới, hoặc là sẽ dẫn đến một tiến trình suy thoái ngay cả tại các miền được ghi dấu bởi sự tiến bộ không ngừng’”.
Trong phần kết luận, Đức Thánh Cha nhắc nhở các tín hữu đừng đánh mất đi niềm hy vọng. “Mặc dầu ‘mầu nhiệm của sự ác’ (2 Th 2:27) vẫn hiện diện và tác quái trong thế giới, chúng ta không được quên rằng nhân loại đã được cứu chuộc có thể chống lại nó. Mỗi tín hữu, đã được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa và được cứu chuộc bởi Đức Kitô, ‘Đấng cách nào đó đã liên kết chính mình với mỗi người’, có thể hợp tác vào chiến thắng của sự thiện. Tác động của ‘Thánh Thần Thiên Chúa ngập tràn trái đất’ (x Kn 1:7). “.
Vì thế, “Các Kitô hữu, đặc biệt anh chị em giáo dân”, “không thể chôn kín niềm hy vọng của họ trong thẳm sâu tâm hồn, nhưng phải diễn tả ra qua các cấu trúc cuộc sống trần gian của họ trong sự hoán cải liên tục và trong cuộc chiến ‘chống lại các quyền lực tối tăm của thế giới, chống lại các thế lực tinh thần của sự dữ’. (Eph 6:12)”
Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Không một người nam nữ thiện chí nào có thể từ bỏ cuộc đấu tranh chiến thắng sự dữ bằng điều thiện. Cuộc chiến này chỉ có thể có hiệu quả với vũ khí yêu thương. Khi điều thiện chiến thắng sự dữ, tình yêu thắng thế và nơi đâu tình yêu thắng thế, nơi đó có hòa bình.”.
Đức Thánh Cha cũng nhắc đến năm nay Giáo Hội đang cử hành năm Thánh Thể. Đức Thánh Cha cầu mong “mọi con cái nam nữ của Giáo Hội tìm thấy nơi bí tích cao cả của tình yêu này nguồn mạch của mọi sự hiệp thông: hiệp thông với Đức Giêsu Cứu Thế và, trong Ngài, hiệp thông với mỗi con người. Qua cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô, hiện diện cách bí tích trong mỗi buổi cử hành Thánh Thể, chúng ta được cứu khỏi sự dữ và có thể thực thi điều thiện. Qua cuộc sống mới mà Đức Kitô ban cho, chúng ta có thể nhận ra người khác là anh chị em của mình, bất chấp mọi khác biệt về ngôn ngữ, quốc tịch, và văn hóa. Tóm lại, qua việc chia sẻ trong cùng một bánh và cùng một chén, chúng ta đi đến nhận thức rằng chúng ta là “gia đình của Thiên Chúa” và rằng cùng nhau chúng ta có thể đưa ra cống hiến có hiệu quả để xây dựng một thế giới trên cơ sở các giá trị công lý, tự do và hòa bình.”