Những cách cư xử trong đời sống luân lý

Lược trích bài phỏng vấn với nữ Giáo Sư Nancy Sherman về Cái Nhìn và Cảm Giác của Đức Hạnh (The Look and Feel of Virtue).

WASHINGTON, D.C., JAN. 17, 2005 (Zenit.org).-Những gì chúng ta làm, cách thức mà chúng ta làm và cách mà chúng ta xuất hiện trước mọi người, thường nói lên một sự khác biệt về đạo đức, luân lý, đó là lời nhận xét của một nữ học giả trong lãnh vực nghiên cứu về luân lý, đạo đức.

Nancy Sherman, tác giả của những tập sách sắp xuất bản có tiêu đề là: “Những Chiến Binh Khắc Kỷ: Triết Học Cổ Đằng Sau Đầu Óc Quân Sự” (Stoic Warriors: The Ancient Philosophy Behind the Military Mind), hiện đang là nữ giáo sư về triết học tại trường Đại Học Georgetown và cũng là Chủ Tịch Danh Dự của phân khoa về luân lý đạo đức học tại Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ. Sách được Nhà Xuất Bản của Trường Đại Học Oxford phát hành.

Nữ giáo sư đã chia sẽ với hãng tin Zenit về cách làm thế nào mà một “thái độ, cử chỉ thiếu thẩm mỹ” ảnh hưởng chúng ta, và việc hành động với những cách cư xử theo lẽ phải sẽ giúp chúng ta làm gia tăng thêm đời sống đức hạnh.

Hỏi (H): Thưa nữ Giáo Sư, đâu là cái nhìn và cảm giác của đức hạnh?

Nữ Giáo Sư Sherman (T): Thưa, khi đề cập tới “cái nhìn và cảm giác của đức hạnh,” là tôi muốn ám chỉ đến ý tưởng về “những cử chỉ hay thái độ thiếu thẩm mỹ.” Điều chủ yếu tôi muốn ám chỉ chính là cách thức mà chúng ta xuất hiện trước những người khác được thể hiện qua những cử chỉ tôn trọng và đúng mực, cũng như qua cách toát lên cho người khác thấy được vẻ đẹp của nội tâm và thái độ hòa nhã với mọi người, thông qua cái nhìn, điệu bộ, giọng nói, dáng điệu, diễn tả của nét mặt, hay nói một cách chung chung hơn chính là cách ứng xử tổng quát về tình cảm và tự nhiên. Cách mà chúng ta tự an ủi lẫn nhau thường là một thành phần quan trọng trong những cử chỉ trang trọng, chẳng hạn như việc nhìn ai đó một cách lịch sự bằng con mắt khi chúng ta chào hỏi họ hay biểu lộ sự biết ơn qua một nụ cười.

Tôi muốn nói rằng những cử chỉ trang trọng và phần lớn là cách cư xử tổng quát chung chính là cách thức mà chúng ta truyền đạt về thái độ nhạy cảm xét về mặt xã hội. Chính vì thế, nó không chỉ là những gì mà chúng ta làm, mà cách chúng ta làm và cách mà chúng ta xuất hiện trước công chúng mới thật sự là đáng quan tâm về mặt luân lý, đạo đức.

(H): Thưa nữ Giáo Sư, tại sao các cử chỉ lại quan trọng đến thế?

(T): Thưa, tôi trở nên thích thú về các cử chỉ trong suốt thời gian tôi giữ ghế chủ tịch của phân khoa về đạo đức, luân lý học tại Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ. Lần đầu tiên khi tôi bước vào cổng của Học Viện, điều chộp vào mắt tôi, mà đúng ra, đó cũng là điều mà bất kỳ người ngoài nào cũng đều nhận thấy, chính là cách đứng chào trang nghiêm kính cẩn và lịch sự của anh lính gác trẻ tuổi.

Danh dự, dũng cảm và cam kết” là những chữ được viết trên các bức tường của Học Viện, thay cho chữ “Veritas” của trường Đại Học Harvard. Thế nhưng nếu được viết trên các gương mặt và thân thể của những chuẩn úy hải quân thì đó không chỉ là một cam kết cho thái độ, mà đó còn là một cam kết đối với một cử chỉ, hay hành động thiếu thẩm mỹ. Thật tình ra thì thế giới quân sự rất nghiêm khắc, và họ chú trọng đến cả thái độ nội tâm, lẫn hình thức dung mạo bên ngoài.

Vào giờ ăn trưa, các khách thăm viếng đứng xếp hàng, và nhìn thấy một lữ đoàn gồm các thân hình thẳng đứng trong các bộ quân phục ủi thẳng thớm. Các sĩ quan và các học sinh của học viện nghiêm trang chào đón những người thường dân (civilian) với những chữ như “Thưa Ông,” hay “Thưa Bà,” bằng cặp mắt nhìn thẳng và cái bắt tay rắn chắc thân thiện và kính trọng. Tóc tai ngắn gọn, sạch sẽ và bộ quân phục thẳng thớm, tươm tất. Các áo sơ mi của Thủy Quân Lục Chiến có nếp gấp thẳng thớm chứ không giống như các áo sơ mi của thường dân.

Nhưng không chỉ có bộ quân phục tươm tất, gọn gàng mới chuyển tải được hạnh kiểm tốt của người chuẩn úy hải quân, mà đó là cách cư xử chung mà mọi du khách ai cũng đều chú ý đến - một ý thức lịch sự và tôn trọng, một cái cảm giác về sự lịch sự và kính cẩn của người khác dành cho mình.

Khi tôi nhìn thấy những vị sĩ quan trẻ này đang huấn luyện, tôi tự hỏi chính tôi làm thế nào mà những cử chỉ bên ngoài ấy lại có tầm quan trọng trong đời sống của thường dân. Câu trả lời của tôi đó là, chắc hẳn, cử chỉ bên ngoài ấy phải đóng một tầm quan trọng nào đó trong đời sống của thường dân, mà cụ thể là những triết học gia nói riêng thường cảm thấy rất là ngại ngùng khi phải bảo vệ hay đề cập tới.

Và tuy vậy, với tư cách là những người làm cha, làm mẹ, chúng ta vẫn thường hay huấn luyện và dạy dổ con cái chúng ta là nhìn vào mắt người đối diện khi nói lên lời chào hỏi hay lời cám ơn, hay phải ăn vận sao cho tương xứng, khi đi ra ngoài đường với ai đó, vân vân. Chúng ta dựa vào cách biểu hiện của gương mặt hay dáng điệu của thân thể chính là một phần của hạnh kiểm và đạo đức luân lý tốt. Và chúng ta hoặc là ca ngợi, hoặc là chỉ trích cũng dựa trên cách biểu hiện đó.

Cách biểu hiện bề ngoài của đức hạnh, đôi lúc, cũng đi đôi với những cách thể hiện của đạo đức bên trong.

(H): Thưa nữ Giáo Sư, liệu các cách thể hiện bên ngoài có giúp làm trau dồi những đức tính đích thực, thuần túy hay đơn giản chỉ là cách che đậy giả hình hay đạo đức giả?

(T): Thưa, bạn đã nêu ra một sự phản đối quan trọng đối với những cử chỉ, cụ thể là chúng bỏ qua, và thậm chí khuyến khích ra sự giả dối. Sự thuận ý nếu cộc cằn có thể làm xúc phạm ai đó, thế nhưng thái độ lịch sự bên ngoài vốn che đậy bởi sự hèn hạ bên trong thì cũng là hình thức làm xúc phạm tới ai đó, vì suy cho cùng, đó chính là một cử chỉ lừa đảo, giả dối không hơn, không kém mà thôi. Hơn thế nữa, việc tự giả dối có thể làm cho người khác xa lánh, cũng như chính chúng ta tự xa lánh lấy chính bản thân chúng ta.

Nhưng tôi nghĩ, lời buộc về lối đạo đức giả của bạn là quá đáng. Tôi không nghĩ là vậy, vì những lý do sau:

Trước tiên, khi đòi hỏi tâm hồn của ai đó hoàn toàn phải đúng đắn, và để biết khi nào thì không, thì tự đó chính là một dấu chỉ nhạy cảm của luân lý. Để biết khi nào phải dấu lòng mình, để biết được khi nào thì thái độ lịch sự sẽ có ý nghĩa cho một cái/điều gì đó, và sự biểu hiện nó ra một cách trọn vẹn hay không, thì trông có vẽ đó là một điều tốt về mặt luân lý.

Hơn nữa, điệu bộ, cách diển tả hay biểu hiện của khuôn mặt, hoặc nếu chúng ta có thể nói là “giả bộ” có thể làm hài lòng người khác và tỏ bày sự tôn trọng cũng giống như việc tự hô hào chính mình vậy. Chúng là cách để đáp ứng sự thay đổi của thái độ và cảm nghĩ bên trong. Chúng ta phải thể hiện một sự thay đổi bên trong lẫn bên ngoài, đúng với thực trạng của lương tâm đạo đức, chứ đừng giả vờ.

Những nghiên cứu mới đây về các động cơ biểu hiện của khôn mặt đã ủng hộ cho ý tưởng trên. Những nhà thực hiện cuộc nghiên cứu đã cho thấy rằng những ai đọc những câu chuyện “hài hước” với đôi môi lộn ngược lên nhận thấy các hình hoạt họa thì vui và hài hước hơn những ai mà đôi môi không ở vị trí vui cười. Những nghiên cứu khác cho thấy rằng cách biểu hiện công khai, không úp mở của khuôn mặt có thể ảnh hưởng đến tình cường độ của sự khêu gợi tình cảm.

Immanuel Kant, một nhà triết học vĩ đại người Đức thuộc thế kỷ thứ 18, đã nắm bắt lấy những điểm khá ngạc nhiên và đã thể hiện một cách tài tình qua các bài viết của Ông. Ông nói, “Tất cả hay từng người đàn ông một, đều là những người tài tử - xã hội càng văn minh và hiện đại bao nhiêu, thì họ càng trở nên giống nhiều nam tài tử nhiều bấy nhiêu. Họ đặt trên khuôn mặt của họ, một cách biểu hiện về tình cảm, sự tôn trọng người khác, sự khiêm tốn và cách thức không thích ai đó một cách rất thẳng thắn, mà không phải lừa dối bất kỳ ai cả, vì suy cho cùng, họ chẳng bao giờ thành thật về điều đó cả. Và điều tốt chính là việc đó xảy ra trên thế giới này. Vì lẽ, nếu những người đàn ông cứ tiếp tục đóng những vai trò này, thì đức tín thật sự của đức hạnh thông qua dáng vẽ bên ngoài sẽ dần dà được khuấy động và chuyển thành thái độ của ý chí.”

Lời nhận xét quan trọng này là đến từ miệng của Kant, vì Ông thường nghĩ với tư cách là một triết học gia, người lúc nào cũng phải đạo đức để nói ra sự thật, chứ không phải sự giả dối. Tuy nhiên, điều mà Ông đề nghị ra phần nào có liên hệ đến việc đóng vai trò (role playing) - trước tiên “là giả bộ” một chút, rồi sau đó, như là cách để bơm thêm dầu cho các bánh xe của xã hội và để từ đó dẫn đến sự thay đổi về nội tâm bên trong.

(H): Do thế, cách mà chúng ta nói, hành động và cư xử có thể giúp hình thành nên những khía cạnh luân lý và cá tính của chúng ta sâu sắc hơn nữa. Nhưng trông có vẽ điều quan trọng chính là cách chuyển tải về thái độ đúng đắn với những người khác. Thưa, điều đó có đúng không Giáo Sư?

(T): Thưa, như là tôi đã đề nghị, tôi nghĩ việc “giả đò,” hay việc đóng vai trò, có thể là hết sức quan trọng trong mọi tương quan của xã hội.

Erving Goffmann, một nhà xã hội học nổi tiếng, người đã nghiên cứu về việc đóng vai trò tại trường Đại Học Pennsylvania, đã đề nghị rằng chúng ta tùy thuộc vào rất nhiều lễ nghi của xã hội, bao gồm cả sự khác biệt về cách cư xử và thái độ tôn trọng. Nhưng cuộc nghiên cứu đề nghị rằng có lẽ còn thêm nhiều điều nữa nhằm thúc đẩy những đổi thay bên trong mà chúng ta vẫn thường nghĩ đến.

Seneca, một người khắc kỷ La Mã của thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên, nhấn mạnh đến sự tiếp tục, liên lũy giữa thái độ, cử chỉ luân lý bên ngoài lẫn bên trong. Quan điểm của Ông chính là sự tử tế và lòng biết ơn được điển hình ẩn chứa qua những hành vi đạo đức, do thế, làm sao để “đóng được vai trò của một người tốt” chính là điều quan trọng.

Và điều đáng ngạc nhiên đối với một người khắc kỷ-người mà bằng học thuyết đã cẩn thận ám chỉ đến sự dính liếu của tình cảm-Ông lập luận rằng sự tử tế và lòng biết ơn có dính liếu nhiều về mặt tình cảm qua cách chúng ta biểu lộ qua thân thể, ngôn ngữ của khuôn mặt và giọng nói. Về việc có liên quan đến sự tử tế và lòng biết ơn, Ông nhấn mạnh đến một kiểu vòng lặp đi và trở lại qua cách biểu hiện của ngôn ngữ tình cảm. Một vài dẫn chứng sau giúp chúng ta hiểu được ý tưởng của Ông.

Chúng ta tạo ra sự bội ơn, bạc nghĩa khi chúng ta làm ơn với một một thái độ than vãn và khi chúng ta “đàn áp hay đè nặng” và cằn nhằn trong những đòi hỏi của chúng ta. “Chúng ta làm hủy trọn tính hiệu năng của nó, chứ không phải là chỉ sau đó, nhưng là lúc chúng ta đang làm ơn cho ai đó.”

Lẫn việc chúng ta thường không cư xử đúng nếu các ơn huệ đó đến từ chúng ta: Sự ngại ngùng của chúng ta chính là cách bội phản qua những “ánh mắt nhăn nhó” (furrowed brows) và “những lời thô lỗ” (grudging words) bất xứng.

Lẫn việc chúng ta không nên trao quà cho ai đó qua cách làm bẽ mặt người đó, vì đó là cách mà chúng ta đã xúc phạm họ, và sự xúc phạm ấy “sẽ được ghi khắc trong thẩm tâm sâu” và rất khó “mà có thể quên được.”

Không ai cảm thấy biết ơn vì một ân huệ nào đó nhận được qua sự ngạo ngễ, kiêu căng, hay qua sự giận dữ, phách lối,” hay được nhận với lời than vãn, hay khoe khoang, hời hợt, hay với “cách biểu hiện xấc xược (insolent) trên khuôn mặt” hay “với ngôn ngữ đầy vẽ tự hào” hay “với một sự thinh lặng giúp cho người nhận có cảm tưởng đó là một sự nghiêm khắc nhẫn tâm, ác nghiệt (grim severity) hay theo một cách bực dọc (irritating).” Nó cũng giống như cho ai đó ổ bánh mì với một hòn đá kèm theo bên trong vậy.

Việc biểu lộ tính kiêu ngạo (arrogance) trong việc cho quà chỉ đơn giản làm suy yếu đi chính hành động biếu tặng: “Có rất nhiều người đã khiến cho sự tử tế của họ trở nên một sự căm hờn (hateful) bằng những ngôn từ thô lỗ (rough) và hợm hĩnh với vẻ ta đây (superciliousness). Ngôn ngữ và sự quấy rầy (annoyance) giống thể như là bạn phải tiếc nuối rằng lời yêu cầu của bạn đã được chấp nhận.”

Và thêm một lần nữa, Ông hô hào rằng: “Đừng than phiền khi phải thực hiện một cử chỉ ân cần tử tế, hãy dành nó cho khi khác. Không một yếu tố khó chịu nào (unpleasantness) được trộn lẫn trong đó.” Nói tóm lại, những món quà tặng chính là sự tử tế thật sự được gởi trao cho ai đó “với một cái nhìn nhân hậu, tử tế mang tính người,” phải thật sự đúng như vậy trong ngôn ngữ của lời nói, của từ, của gương mặt và của cách biểu hiện cơ thể.

Chính vì thế, cái nhìn và cái cảm giác của đức hạnh là điều quan trọng. Chúng ám chỉ đến thái độ, và thậm chí, ngay cả lúc nào đó, thái độ đó lại là sự giả đò. Điểm mấu chốt chính là một phần quan trọng của việc giao tiếp luân lý thường ngày chính là cái thái độ mà chúng ta “chứng tỏ” hoặc “đưa ra” cho những người khác.