Hành động nhân đạo: tuy hoàn hảo trong lý thuyết nhưng lại gai góc trong thực hành
ROME, OCT. 2, 2004 (Zenit.org).- Tòa Thánh Vaticăn rất quan tâm và ủng hộ việc thêm một nguyên tắc mới về sự can thiệp nhân đạo vào Hiến Chương của Liên Hiệp Quốc. Bài phỏng vấn sau đây thể hiện quan điểm chính thức của Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh Angelo Sodano, được đăng trên tờ báo của Ý Quốc là tờ La Stampa vào ngày 22 tháng 9 vừa qua.
Trong các năm qua, những cuộc khủng hoảng xãy ra tại các nơi như: Sômalia, Rwanda và vùng vịnh Balkan đã khêu dậy lên một cuộc tranh luận về việc làm thế nào để đáp trả những nhu cầu về nhân đạo. Một tập hợp các bài viết, dưới nhan đề: “Can Thiệp Nhân Đạo: Những Uẩn Khúc về Mặt Đạo Đức, Pháp Lý và Chính Trị” (Humanitarian Intervention: Ethical, Legal and Political Dilemmas), đã được thu thập từ những buổi thảo luận tại các học viện về chủ đề kể trên. Hai học giả tại trường Đại Học Duke là J.L. Holzgrefe và Robert Keohane, đã hiệu chính cuốn sách ấn bản năm 2003.
Trong bài viết của mình, học giả Holzgrefe nêu ra rằng Hiến Chương của Liên Hiệp Quốc nghiêm cấm việc can thiệp vào chuyện nội bộ của một quốc gia. Tuy nhiên, Ông cũng thêm vào rằng, một số các luật sư quốc tế đã tranh cãi về điều đó, viện dẫn ra rằng có những điều khoản nằm trong Hiến Chương, cho phép được can thiệp vào trong một số hoàn cảnh cụ thể nào đó. Lấy ví dụ như, trong trường hợp vi phạm và lạm dụng nhân quyền một cách trầm trọng và đại quy mô, hoặc một quốc gia nào đó bổng dưng trở thành một mối hiểm họa cho nền hòa bình của các nước láng giềng, vì sự bỏ trốn qui mô của những người tị nạn để tránh khỏi bị khủng bố, bách hại.
Thật ra, trong những năm gần đây Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đã nghiêm cấm sự can thiệp nhân đạo tại một số quốc gia như Haiti. Tuy nhiên, để lý giải cho sự can thiệp này đòi hỏi cần phải có một sự phê chuẩn đặc biệt của Liên Hiệp Quốc để sự can thiệp đó không bị đụng chạm đến các điều khoản nằm trong Hiến Chương đó là cấm việc xâm lược bằng quân sự, học giả Holzgrefe đã biện luận như thế.
Ông cũng còn nêu ra rằng sự can thiệp nhân đạo không phải là một chuyện dễ giải quyết, vì nó có liên quan đến rất nhiều các tranh cãi về pháp lý lẫn đạo đức. Hơn nữa, những lý do nêu ra trước đây để có được sự can thiệp, cũng thường rất khó mà chắc chắn được.
Sự Sụp Đổ Chủ Quyền (Collapse of Sovereignty)
Fernnando Tesón, Giáo sư về luật tại trường Đại Học của tiểu bang Florida, trong bài viết của mình, đã biện luận rằng việc can thiệp nhân đạo có thể được biện minh trên cơ sở của lập luận cho rằng chủ quyền của quốc gia đó chính là một giá trị về công cụ bên ngoài, hơn là những giá trị bên trong. Giáo sư viết: “Sự bạo ngược chuyên chế (tyranny) và tình trạng vô chính phủ (anarchy) đã gây ra việc mất chủ quyền về mặt luân lý, đạo đức.”
Để bảo vệ điều mà Giáo sư gọi là “lập luận trung dung” (liberal argument) để ủng hộ cho việc can thiệp, Giáo sư Tesón đã lưu ý rằng việc sử dụng võ lực để đạt được những hành động can thiệp nhân đạo sẽ dẫn đến những phản kháng được xây dựng nên bằng việc từ chối chiến tranh. Một số người có quan tâm đến nhân quyền, thì chống đối lại việc can thiệp nhân đạo vì lẽ họ coi chiến tranh như là một tội phạm, thậm chí khi nó được thực hiện cho và vì những mục tiêu cao cả.
Nhưng Giáo sư Tesón biện luận rằng đôi lúc, sẽ hợp với đạo đức nếu cho phép chiến tranh xảy ra và rằng “đôi khi, chiến tranh là điều không thể tránh hỏi, và thậm chí là điều bắt buộc.” Biện minh cho việc xâm lược để bảo về nhân quyền có thể được thực hiện khi nó tuân theo những nguyên tắc về đạo đức, luân lý, thì sẽ có ích lợi gấp đôi. Chính vì thế, mối nguy hiểm gây ra bởi sự can thiệp có thể được bỏ qua về mặt đạo đức khi sự nguy hại đó không phải là chủ ý và mục tiêu là nhằm đúng với các tính cách qui phạm mang sức thuyết phục cao.
Vào phần kết, Giáo sư Tesón chỉ ra rằng, “Việc cứu thoát những người khác sẽ luôn là nặng nề, khó nhọc, nếu chúng ta từ chối các nghĩa vụ về luân lý, đạo đức và quyền pháp lý khi thực hiện điều đó, vì lẽ, chúng ta không chỉ từ chối cái cốt lõi của công lý trong các vấn đề chính trị, mà còn cả tính nhân bản chung ràng buộc tất cả chúng ta lại với nhau.”
Việc Thay Đổi Các Quan Điểm (Changing Views)
Sự can thiệp nhân đạo chính là một sự khởi hành từ người theo thuyết duy thực (tức người có óc thực tế) hay những lý thuyết phóng khoáng của nền chính trị quốc tế, như đã quan sát bởi Martha Finnemore, phó giáo sư tại trường Đại Học George Washington. Thì sự can thiệp như vậy thường không được thực hiện trên cơ sở của việc dòm ngó hay quan tâm đến những quyền lợi về kinh tế hay chính trị của một quốc gia nào đó. Một ví dụ điển hình về sự can thiệp này chính là việc Hoa Kỳ có mặt tại Somalia, là nơi chẳng có gì là quan trọng hay thuộc về một địa thế chính trị chính thức nào đó trong khu vực.
Trong cuốn sách xuất bản vào năm 2003 của Giáo sư có nhan đề là “Mục Đích của Sự Can Thiệp: Việc Thay Đổi Tín Ngưỡng về Việc Sử Dụng Bạo Lực,” Giáo sư Finnemore giải thích rằng những hành động nhân đạo của các quốc gia trong quá khứ đã từng xảy ra. Trong số những trường hợp mà Giáo sư trích dẫn ra chính là việc chấm dứt nạn nô lệ buôn người vào thế kỷ thứ 19. Riêng nước Anh đã dùng lực lượng quân sự để từ bỏ nạn buôn bán nô lệ này, mặc dầu hành động của họ chỉ giới hạn vào những hoạt động thương mại mà thôi, chứ không phải việc dùng vũ lực để tự xóa bỏ nạn nô lệ.
Tuy nhiên, với sự chú ý ngày càng gia tăng đặt trọng tâm vào nhân quyền và dân chủ, con số của những vụ can thiệp nhân đạo đã gia tăng lên một cách đáng kể trong thập kỷ qua. Đằng sau sự gia tăng ấy phải kể đến những yếu tố về nhân đạo. Trước tiên, khái niệm là ai có thể bảo vệ đã thay đổi. Trong thế kỷ thứ 19, những quốc gia hùng mạnh chủ yếu chú trọng vào việc bảo vệ các công dân của họ. Ngày hôm nay, những người dân không phải là da trắng hay Kitô giáo cũng được chú trọng nhiều hơn, và hoàn cảnh của họ cũng được chiếu cố nhiều hơn. Thứ hai là vì, sự can thiệp được xem là hợp hiến vì nó không còn chấp nhận cho rằng đó là sáng kiến của một quốc gia mà thôi. Mà là, một hành động đa phương, thường được chuẩn phê bởi Liên Hiệp Quốc, là điều cần thiết. Giáo sư Finnemore còn thêm vào rằng, việc chấm dứt Chiến Tranh Lạnh đã khiến nhiều quốc gia đạt được sự đồng ý cần thiết cho những chiến dịch đa phương, chính vì thế tính cao cả ngày càng được gia tăng lên qua những hành động can thiệp nhân đạo như vậy trong những năm vừa qua.
Thứ ba chính là những mục tiêu có liên quan đến việc chỉ thuần túy lật đổ một chính quyền, để cần thiết lập ra một chế độ dân chủ nhằm bầu ra những người lãnh đạo công bằng và có tính người. Thế nhưng những suy xét về hành động nhân đạo là một trong nhiều lý do để hành động bằng vũ lực trong việc quyết định nên chiến trường chính trị quốc tế. Giáo sư Finnemore đã nêu ra rằng sự vắng mặt để can thiệp vào việc ngăn chặn việc nồi da xáo thịt (slaughter) tại Rwanda vào năm 1994 đã “cho thấy rằng những lý do nhân đạo cũng cần phải đi đôi với những lợi ích khác của các quốc gia khi phải quyết định dùng võ lực.”
Một yếu tố khác có thể làm rắc rối ra nhiều vấn đề của việc can thiệp nhân đạo chính là phải đạt được sự hỗ trợ của nhiều quốc gia, như là điều kiện tiên quyết để can thiệp nhân đạo. Tuy rằng việc đó có một cái lợi chính là chia sẽ về các chi phí và nghĩa vụ, nhưng cái khó khăn của nó chính là việc phải điều hợp thế nào sao cho vừa ý của đa bên. Kinh nghiệm cho thấy qua những tác vụ của Liên Hiệp Quốc trong những năm qua rằng việc chia sẽ về mọi quyết định sẽ làm suy yếu đi tính hiệu quả của các hành động quân sự một cách trầm trọng.
Thẩm Định Lại về Mặt Đạo Đức (Virtue Reassessed)
Một số tiên báo về việc can thiệp nhân đạo đã được David Kennedy, Giáo sư luật tại trường Đại Học Havard nêu ra. Trong cuốn sách mới đây nhất của mình có nhan đề là “Những Mặt Trái của Đạo Đức: Thẩm Định Lại Chủ Nghĩa Nhân Đạo Quốc Tế,” (The Dark Sides of Virtue: Reassessing International Humanitarianism) Giáo sư Kennedy đã nêu ra rằng những người chống đối việc can thiệp “nhận thấy rằng việc lãnh trách nhiệm cho những cuộc can dự vào thì dễ hơn là việc thoát ra khỏi sự ràng buộc/cam kết đó, vì thành công hơn là thất bại.” Hơn nữa, Giáo sư cảnh cáo rằng cần phải chú ý nhiều hơn đến những hệ quả tiêu cực của việc can thiệp và “sự mâu thuẫn, trái ngược, và khó hiểu” giữa những ngôn từ về nhân quyền và hiến pháp quốc tế của nhân quyền.
Một phần của cuốn sách nói về làm thế nào mà khuynh hướng can thiệp nhân đạo ngày càng tăng đã làm đổi thay mối quan hệ giữa các nhà hoạt động nhân quyền và giới quân sự. Chủ nghĩa nhân đạo đã không còn là một điều gì đó cần thiết, quan trọng để chống lại những chiến lược về quân sự nữa. Mà đúng ra, đã có một sự hợp tác mới, vì “nó đã nằm trong chính sách về sách lược của những nhà lập pháp.” Và vì lý do này, mà khuynh hướng thực dụng (pragmatism) và sự chú trọng đến các yếu tố chung ngày càng được phổ biến hơn.
Tuy nhiên, sự thay đổi này không được chấp nhận bởi những người theo chủ nghĩa nhân đạo. Một số nhà hoạt động xã hội đã diễn dịch luật nhân đạo theo một nghĩa hẹp, loại trừ bất kỳ hành động quân sự nào. Giáo sư nhận xét rằng “Rõ ràng là có một điều gì đó đáng kinh tởm về việc một hàng không mẫu hạm khởi chiến để hiện thực hóa chủ nghĩa nhân đạo quốc tế,” theo cái nhìn của những người theo chủ nghĩa nhân đạo.
Và việc điều phối chủ nghĩa nhân đạo với quân sự và các sách lược về chính trị không phải là điều dễ dàng. Những khác biệt hãy còn tồn tại giữa quan điểm về nhân đạo và quân sự, vốn rất khó để đạt được sự thỏa hiệp. Lấy ví dụ như, những cái chết của thường dân, thì rất quan trọng đối với những người theo chủ nghĩa nhân đạo. Các nhà chiến lược quân sự coi việc chết chóc xảy ra cho thường dân, là cách để bảo vệ một người binh sĩ của họ. “Về điểm này, thì người theo chủ nghĩa nhân đạo hoàn toàn bị thất thế,” vì việc họ nhạy cảm với nhu cầu cần thiết để bảo vệ các quy chuẩn để tránh việc mất mác nhân mạng xảy ra cho thường dân.
Trong bài phỏng vấn với báo chí, Đức Hồng Y Sodano nêu ra rằng sự can thiệp nhân đạo nên được hạn chế vào những tình huống mà tình trạng nhân quyền bị chà đạp (trample) một cách nặng nề tại một quốc gia nào đó. Để quyết định khi nào và vào những tình huống nào, không phải là chuyện dễ dàng, như là những cuộc thảo luận tại các trường đại học đã nêu ra.
ROME, OCT. 2, 2004 (Zenit.org).- Tòa Thánh Vaticăn rất quan tâm và ủng hộ việc thêm một nguyên tắc mới về sự can thiệp nhân đạo vào Hiến Chương của Liên Hiệp Quốc. Bài phỏng vấn sau đây thể hiện quan điểm chính thức của Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh Angelo Sodano, được đăng trên tờ báo của Ý Quốc là tờ La Stampa vào ngày 22 tháng 9 vừa qua.
Trong các năm qua, những cuộc khủng hoảng xãy ra tại các nơi như: Sômalia, Rwanda và vùng vịnh Balkan đã khêu dậy lên một cuộc tranh luận về việc làm thế nào để đáp trả những nhu cầu về nhân đạo. Một tập hợp các bài viết, dưới nhan đề: “Can Thiệp Nhân Đạo: Những Uẩn Khúc về Mặt Đạo Đức, Pháp Lý và Chính Trị” (Humanitarian Intervention: Ethical, Legal and Political Dilemmas), đã được thu thập từ những buổi thảo luận tại các học viện về chủ đề kể trên. Hai học giả tại trường Đại Học Duke là J.L. Holzgrefe và Robert Keohane, đã hiệu chính cuốn sách ấn bản năm 2003.
Trong bài viết của mình, học giả Holzgrefe nêu ra rằng Hiến Chương của Liên Hiệp Quốc nghiêm cấm việc can thiệp vào chuyện nội bộ của một quốc gia. Tuy nhiên, Ông cũng thêm vào rằng, một số các luật sư quốc tế đã tranh cãi về điều đó, viện dẫn ra rằng có những điều khoản nằm trong Hiến Chương, cho phép được can thiệp vào trong một số hoàn cảnh cụ thể nào đó. Lấy ví dụ như, trong trường hợp vi phạm và lạm dụng nhân quyền một cách trầm trọng và đại quy mô, hoặc một quốc gia nào đó bổng dưng trở thành một mối hiểm họa cho nền hòa bình của các nước láng giềng, vì sự bỏ trốn qui mô của những người tị nạn để tránh khỏi bị khủng bố, bách hại.
Thật ra, trong những năm gần đây Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đã nghiêm cấm sự can thiệp nhân đạo tại một số quốc gia như Haiti. Tuy nhiên, để lý giải cho sự can thiệp này đòi hỏi cần phải có một sự phê chuẩn đặc biệt của Liên Hiệp Quốc để sự can thiệp đó không bị đụng chạm đến các điều khoản nằm trong Hiến Chương đó là cấm việc xâm lược bằng quân sự, học giả Holzgrefe đã biện luận như thế.
Ông cũng còn nêu ra rằng sự can thiệp nhân đạo không phải là một chuyện dễ giải quyết, vì nó có liên quan đến rất nhiều các tranh cãi về pháp lý lẫn đạo đức. Hơn nữa, những lý do nêu ra trước đây để có được sự can thiệp, cũng thường rất khó mà chắc chắn được.
Sự Sụp Đổ Chủ Quyền (Collapse of Sovereignty)
Fernnando Tesón, Giáo sư về luật tại trường Đại Học của tiểu bang Florida, trong bài viết của mình, đã biện luận rằng việc can thiệp nhân đạo có thể được biện minh trên cơ sở của lập luận cho rằng chủ quyền của quốc gia đó chính là một giá trị về công cụ bên ngoài, hơn là những giá trị bên trong. Giáo sư viết: “Sự bạo ngược chuyên chế (tyranny) và tình trạng vô chính phủ (anarchy) đã gây ra việc mất chủ quyền về mặt luân lý, đạo đức.”
Để bảo vệ điều mà Giáo sư gọi là “lập luận trung dung” (liberal argument) để ủng hộ cho việc can thiệp, Giáo sư Tesón đã lưu ý rằng việc sử dụng võ lực để đạt được những hành động can thiệp nhân đạo sẽ dẫn đến những phản kháng được xây dựng nên bằng việc từ chối chiến tranh. Một số người có quan tâm đến nhân quyền, thì chống đối lại việc can thiệp nhân đạo vì lẽ họ coi chiến tranh như là một tội phạm, thậm chí khi nó được thực hiện cho và vì những mục tiêu cao cả.
Nhưng Giáo sư Tesón biện luận rằng đôi lúc, sẽ hợp với đạo đức nếu cho phép chiến tranh xảy ra và rằng “đôi khi, chiến tranh là điều không thể tránh hỏi, và thậm chí là điều bắt buộc.” Biện minh cho việc xâm lược để bảo về nhân quyền có thể được thực hiện khi nó tuân theo những nguyên tắc về đạo đức, luân lý, thì sẽ có ích lợi gấp đôi. Chính vì thế, mối nguy hiểm gây ra bởi sự can thiệp có thể được bỏ qua về mặt đạo đức khi sự nguy hại đó không phải là chủ ý và mục tiêu là nhằm đúng với các tính cách qui phạm mang sức thuyết phục cao.
Vào phần kết, Giáo sư Tesón chỉ ra rằng, “Việc cứu thoát những người khác sẽ luôn là nặng nề, khó nhọc, nếu chúng ta từ chối các nghĩa vụ về luân lý, đạo đức và quyền pháp lý khi thực hiện điều đó, vì lẽ, chúng ta không chỉ từ chối cái cốt lõi của công lý trong các vấn đề chính trị, mà còn cả tính nhân bản chung ràng buộc tất cả chúng ta lại với nhau.”
Việc Thay Đổi Các Quan Điểm (Changing Views)
Sự can thiệp nhân đạo chính là một sự khởi hành từ người theo thuyết duy thực (tức người có óc thực tế) hay những lý thuyết phóng khoáng của nền chính trị quốc tế, như đã quan sát bởi Martha Finnemore, phó giáo sư tại trường Đại Học George Washington. Thì sự can thiệp như vậy thường không được thực hiện trên cơ sở của việc dòm ngó hay quan tâm đến những quyền lợi về kinh tế hay chính trị của một quốc gia nào đó. Một ví dụ điển hình về sự can thiệp này chính là việc Hoa Kỳ có mặt tại Somalia, là nơi chẳng có gì là quan trọng hay thuộc về một địa thế chính trị chính thức nào đó trong khu vực.
Trong cuốn sách xuất bản vào năm 2003 của Giáo sư có nhan đề là “Mục Đích của Sự Can Thiệp: Việc Thay Đổi Tín Ngưỡng về Việc Sử Dụng Bạo Lực,” Giáo sư Finnemore giải thích rằng những hành động nhân đạo của các quốc gia trong quá khứ đã từng xảy ra. Trong số những trường hợp mà Giáo sư trích dẫn ra chính là việc chấm dứt nạn nô lệ buôn người vào thế kỷ thứ 19. Riêng nước Anh đã dùng lực lượng quân sự để từ bỏ nạn buôn bán nô lệ này, mặc dầu hành động của họ chỉ giới hạn vào những hoạt động thương mại mà thôi, chứ không phải việc dùng vũ lực để tự xóa bỏ nạn nô lệ.
Tuy nhiên, với sự chú ý ngày càng gia tăng đặt trọng tâm vào nhân quyền và dân chủ, con số của những vụ can thiệp nhân đạo đã gia tăng lên một cách đáng kể trong thập kỷ qua. Đằng sau sự gia tăng ấy phải kể đến những yếu tố về nhân đạo. Trước tiên, khái niệm là ai có thể bảo vệ đã thay đổi. Trong thế kỷ thứ 19, những quốc gia hùng mạnh chủ yếu chú trọng vào việc bảo vệ các công dân của họ. Ngày hôm nay, những người dân không phải là da trắng hay Kitô giáo cũng được chú trọng nhiều hơn, và hoàn cảnh của họ cũng được chiếu cố nhiều hơn. Thứ hai là vì, sự can thiệp được xem là hợp hiến vì nó không còn chấp nhận cho rằng đó là sáng kiến của một quốc gia mà thôi. Mà là, một hành động đa phương, thường được chuẩn phê bởi Liên Hiệp Quốc, là điều cần thiết. Giáo sư Finnemore còn thêm vào rằng, việc chấm dứt Chiến Tranh Lạnh đã khiến nhiều quốc gia đạt được sự đồng ý cần thiết cho những chiến dịch đa phương, chính vì thế tính cao cả ngày càng được gia tăng lên qua những hành động can thiệp nhân đạo như vậy trong những năm vừa qua.
Thứ ba chính là những mục tiêu có liên quan đến việc chỉ thuần túy lật đổ một chính quyền, để cần thiết lập ra một chế độ dân chủ nhằm bầu ra những người lãnh đạo công bằng và có tính người. Thế nhưng những suy xét về hành động nhân đạo là một trong nhiều lý do để hành động bằng vũ lực trong việc quyết định nên chiến trường chính trị quốc tế. Giáo sư Finnemore đã nêu ra rằng sự vắng mặt để can thiệp vào việc ngăn chặn việc nồi da xáo thịt (slaughter) tại Rwanda vào năm 1994 đã “cho thấy rằng những lý do nhân đạo cũng cần phải đi đôi với những lợi ích khác của các quốc gia khi phải quyết định dùng võ lực.”
Một yếu tố khác có thể làm rắc rối ra nhiều vấn đề của việc can thiệp nhân đạo chính là phải đạt được sự hỗ trợ của nhiều quốc gia, như là điều kiện tiên quyết để can thiệp nhân đạo. Tuy rằng việc đó có một cái lợi chính là chia sẽ về các chi phí và nghĩa vụ, nhưng cái khó khăn của nó chính là việc phải điều hợp thế nào sao cho vừa ý của đa bên. Kinh nghiệm cho thấy qua những tác vụ của Liên Hiệp Quốc trong những năm qua rằng việc chia sẽ về mọi quyết định sẽ làm suy yếu đi tính hiệu quả của các hành động quân sự một cách trầm trọng.
Thẩm Định Lại về Mặt Đạo Đức (Virtue Reassessed)
Một số tiên báo về việc can thiệp nhân đạo đã được David Kennedy, Giáo sư luật tại trường Đại Học Havard nêu ra. Trong cuốn sách mới đây nhất của mình có nhan đề là “Những Mặt Trái của Đạo Đức: Thẩm Định Lại Chủ Nghĩa Nhân Đạo Quốc Tế,” (The Dark Sides of Virtue: Reassessing International Humanitarianism) Giáo sư Kennedy đã nêu ra rằng những người chống đối việc can thiệp “nhận thấy rằng việc lãnh trách nhiệm cho những cuộc can dự vào thì dễ hơn là việc thoát ra khỏi sự ràng buộc/cam kết đó, vì thành công hơn là thất bại.” Hơn nữa, Giáo sư cảnh cáo rằng cần phải chú ý nhiều hơn đến những hệ quả tiêu cực của việc can thiệp và “sự mâu thuẫn, trái ngược, và khó hiểu” giữa những ngôn từ về nhân quyền và hiến pháp quốc tế của nhân quyền.
Một phần của cuốn sách nói về làm thế nào mà khuynh hướng can thiệp nhân đạo ngày càng tăng đã làm đổi thay mối quan hệ giữa các nhà hoạt động nhân quyền và giới quân sự. Chủ nghĩa nhân đạo đã không còn là một điều gì đó cần thiết, quan trọng để chống lại những chiến lược về quân sự nữa. Mà đúng ra, đã có một sự hợp tác mới, vì “nó đã nằm trong chính sách về sách lược của những nhà lập pháp.” Và vì lý do này, mà khuynh hướng thực dụng (pragmatism) và sự chú trọng đến các yếu tố chung ngày càng được phổ biến hơn.
Tuy nhiên, sự thay đổi này không được chấp nhận bởi những người theo chủ nghĩa nhân đạo. Một số nhà hoạt động xã hội đã diễn dịch luật nhân đạo theo một nghĩa hẹp, loại trừ bất kỳ hành động quân sự nào. Giáo sư nhận xét rằng “Rõ ràng là có một điều gì đó đáng kinh tởm về việc một hàng không mẫu hạm khởi chiến để hiện thực hóa chủ nghĩa nhân đạo quốc tế,” theo cái nhìn của những người theo chủ nghĩa nhân đạo.
Và việc điều phối chủ nghĩa nhân đạo với quân sự và các sách lược về chính trị không phải là điều dễ dàng. Những khác biệt hãy còn tồn tại giữa quan điểm về nhân đạo và quân sự, vốn rất khó để đạt được sự thỏa hiệp. Lấy ví dụ như, những cái chết của thường dân, thì rất quan trọng đối với những người theo chủ nghĩa nhân đạo. Các nhà chiến lược quân sự coi việc chết chóc xảy ra cho thường dân, là cách để bảo vệ một người binh sĩ của họ. “Về điểm này, thì người theo chủ nghĩa nhân đạo hoàn toàn bị thất thế,” vì việc họ nhạy cảm với nhu cầu cần thiết để bảo vệ các quy chuẩn để tránh việc mất mác nhân mạng xảy ra cho thường dân.
Trong bài phỏng vấn với báo chí, Đức Hồng Y Sodano nêu ra rằng sự can thiệp nhân đạo nên được hạn chế vào những tình huống mà tình trạng nhân quyền bị chà đạp (trample) một cách nặng nề tại một quốc gia nào đó. Để quyết định khi nào và vào những tình huống nào, không phải là chuyện dễ dàng, như là những cuộc thảo luận tại các trường đại học đã nêu ra.