Giới thiệu một cách tổng quan chi tiết về Tòa Thánh (Phần XIX)

Phần 4: Việc Trống Ngôi Giáo Hoàng (Papal Interregnum)

V. Lịch Sử về Luật Bầu Cử Giáo Hoàng (History of Papal Electoral Law)

Liber Pontificalis là một tập hợp chính thức về tiểu sử của các vị Giáo Hoàng cũng như lịch sử của Giáo Hội Công Giáo qua rất nhiều giai đoạn. Nó đồng thời cũng cung cấp những thông tin rất có giá trị trong việc tìm hiểu về sự phát triển của luật bầu Giáo Hoàng. Qua phần trình bày dưới đây, chúng ta có thể nhận thấy được rằng Giáo Hội đã trải qua bao phen sóng gió, rồi chống đỡ, và ít ra là hơi dung hòa với tất cả những ảnh hưởng từ phía bên ngoài trong tiến trình bầu chọn vị Giáo Hoàng.

Vào năm c.80, Đức Cletus (76-88) đã phong chức cho 25 vị linh mục để phục vụ thành Rôma, thì đây là việc thụ phong đông đảo và sớm nhất trong lịch sử của Giáo Hội.

Vào năm c.100, Đức Evaristus đã phân chia chức vụ tại Rôma giữa các vị linh mục và đã thụ phong cho 7 thầy phó tế để trợ giúp Ngài.

Vào năm c.240, Đức Fabian đã phân chia Tòa Rôma thành 7 vùng. Các vị phó tế cai quản những vùng này, cùng với 7 vị phó tế, đều trở thành những nhân vật trợ giúp cho Ngài, và các vị này cũng chính là những vị tiền bối đầu tiên nắm giữ các chức vụ như là những vị Hồng Y. Chính vì thế mà giờ đây Giáo Hội có chức Hồng Y Phó Tế.

Vào năm 336, Đức Giáo Hoàng Marcô thiết lập ra Tòa Giám Mục Ostia, và vị Giám Mục này chính là người tấn phong chính thức cho vị Giáo Hoàng mới được chọn lựa. Vào thời gian đó, các vị Giáo Hoàng thường được chọn ra từ hàng ngũ các linh mục và các thầy phó tế (chức sáu) của Rôma, và do thế, vị đó cần phải được phong chức Giám Mục để có thể điều hành và cai quản Giáo Hội.

Vào năm 420, Đức Boniface I (418-22) nhận được sự đồng ý của Hoàng Đế Honorius trong một cuộc bầu chọn đầy tranh cãi, vì cả hai vị được chọn đều bị nhà vua từ chối. Thì đây chính là trường hợp đầu tiên trong lịch sử Giáo Hội, giới dân quyền có ảnh hưởng trong cuộc bầu chọn Giáo Hoàng.

Vào năm 499, Đức Symmachus (498-514) cho triệu tập Công Nghị Rôma và bày tỏ rằng Ngài chỉ muốn giới giáo sĩ thành Rôma mới được quyền bỏ phiếu bầu ra vị Giáo Hoàng, và vị nào thắng nhiều phiếu nhất, tức sẽ là vị Giáo Hoàng. Tuy nhiên, việc bầu cử này chỉ xảy ra nếu như vị Giáo Hoàng trước đó không chỉ định Người kế nhiệm Ngài.

Vào năm 607, Đức Boniface III (607) cho triệu tập Công Nghị Rôma để nhấn mạnh đến việc cấm vận động bầu cử và hối lộ, cũng như việc bầu chọn Giáo Hoàng phải đợi 3 ngày sau, sau khi vị Giáo Hoàng đương nhiệm băng hà. Ngài cũng cho phép sự tham dự bỏ phiếu của các viên chức đáng kính (nobility) cùng với giới tu sĩ.

Vào năm 769, Đức Stephen III (IV) giới hạn con số cử tri ứng viên trong việc bầu chọn Giáo Hoàng. Thông qua Công Nghị Rôma, Ngài qui định rằng chỉ có những vị Hồng Y linh mục và những vị Hồng Y Phó Tế mới là những vị cử tri trong cuộc bầu chọn Giáo Hoàng mà thôi. Vào thời điểm đó, những vị Hồng Y thật sự giữ các nhiệm sở tại Rôma, nhưng bây giờ chỉ là giữ chức hiệu tòa (titular) mà thôi.

Vào năm 824, vị đồng Hoàng Đế Lothair cương quyết đòi rằng những người La Mã, giới tu sĩ và giáo dân, phải có quyền tham gia vào việc bầu chọn vị Giáo Hoàng. Đổi lại, vị Hoàng Đế sẽ không can dự vào, nhưng vị Giáo Hoàng được chọn phải thề là trung thành với Hoàng Đế.

Vào năm 861, Đức Nicolas I, hành động thông qua Công Nghị Rôma, đã chính thức lên án những ai từ chối việc bầu chọn ra vị Giám Mục của thành Rôma từ hàng ngũ giáo sĩ và các viên chức đáng kính.

Vào năm 898, Đức Gioan IX tại Công Nghị Rôma đã ra sắc lệnh rằng trong tương lai, những vị Hồng Y Giám Mục, Hồng Y Linh Mục và Hồng Y Phó Tế sẽ bầu chọn ra vị Giáo Hoàng, và tiến trình đó sẽ được thực hiện công khai.

Vào năm 962, Đức Gioan XII đồng ý với Đặc Quyền Otto, vốn đòi hỏi vị Giáo Hoàng phải thề là trung thành với vị Hoàng Đế La Mã là Otto vào lúc đó, để đổi lại cho việc bảo vệ và tránh can dự của Hoàng Đế vào việc bầu cử.

Vào năm 1059, Đức Nicolas II đã ra sắc chỉ In nomine domine rằng chỉ có những vị Hồng Y Giám Mục mới được quyền bầu chọn ra vị Giáo Hoàng. Còn những vị Hồng Y Linh Mục và Hồng Y Phó Tế chỉ được liệu có đồng ý với vị Giáo Hoàng được bầu ra không. Và sau cùng, phải hỏi sự đồng ý của giáo dân. Vị Hoàng Đế sẽ là người giao chức Giáo Hoàng cho vị được chọn.

Vào năm 1089, Đức Urban II qui định những vị Hồng Y Linh Mục đều có những quyền hạn ngang bằng với những vị Hồng Y Giám Mục trong việc bầu chọn ra vị Giáo Hoàng.

Vào năm 1122, cuối cùng thì qua điều ước Worms, Hoàng Đế La Mã đã đồng ý rằng những vị hoàng tử thuộc trần tục không được tạo ra bất kỳ một sự ảnh hưởng nào về quyền bính thiêng liêng của các vị Giám Mục tại các giáo phận nằm trong lãnh thổ của những vị hoàng tử trần tục đó. Tuy nhiên, họ có thể chuyển giao cây trượng như là một dấu chỉ về quyền bính trần thế tại những giáo phận trực thuộc dưới quyền cai quản của các vị Giám Mục.

Vào năm 1150, Đức Eugene III đưa ra một sự cải cách về giáo luật, rằng vị đứng đầu Hồng Y Đoàn được xem như là vị Niên Trưởng, cũng đồng thời là vị Giám Mục của thành Ostia, và vị Hồng Y Thị Thần (Camerlengo), là người trông nom các tài sản của Giáo Hội.

Vào năm 1163, Đức Alexander III cho phép Đức Tổng Giám Mục của Mainz được trở về Tổng Giáo Phận của Ngài tại Đức Quốc, hơn là phải cư trú tại Rôma, và tất cả các vị Hồng Y cũng tương tự. Và Ngài trao cho vị Hồng Y đó chức “hiệu tòa” (titular) trong Giáo Hội tại Rôma, và truyền thống đó, được giữ gìn mãi cho đến ngày nay.

Vào năm 1245, lần đầu tiên mũ đỏ được trao cho các vị Hồng Y dưới thời của Đức Innocent IV.

Vào năm 1274, Tông Hiến Ubi periculum của Công Nghị Lyon, dưới thời của Đức Gregory X, lập ra các qui phạm về việc bầu chọn vị Giáo Hoàng. Luật ban sắc chỉ việc bầu chọn phải được diễn ra trong vòng bí mật đằng sau hai khóa cửa. Vị Nguyên Soái (Marshal) của Cơ Mật Viện khóa chặt chốt cửa ở phía ngoài, và vị Hồng Y Thị Thần khóa chặt chốt cửa ở bên trong. Nếu trong vòng 2 ngày vẫn chưa bầu ra được vị Giáo Hoàng, thì các vị Hồng Y chỉ có dùng nước, bánh mì và rượu để nuôi sống mà thôi, cho đến khi nào bầu được vị Giáo Hoàng.

Vào năm 1276, Đức Hadrian IV hũy bỏ những qui phạm hà khắc của Ubi periculum và cải cách hết tất cả các qui phạm. Ngài đề nghị ra 3 cách thức để bầu chọn ra vị Giáo Hoàng: cách 1, người được chọn là người nhận được 2/3 trong tổng số các phiếu kín; cách 2 là vị nào đó đề cử ra vị Giáo Hoàng và xét xem những vị khác còn lại có đồng ý hay không; và cách 3 chính là qua sự đồng tâm, nhất trí.

Vào năm 1294, Đức Boniface VIII khẳng định về pháp chế của hai vị tiền nhiệm của Ngài là Đức Celestine và Gregory X bằng việc thêm vào một số sắc chỉ (decretals). Ngài cũng còn cho phép các vị Hồng Y được mặc áo đỏ trong tiến trình bầu chọn Giáo Hoàng.

Vào năm 1417, Đức Martin V là vị Giáo Hoàng đầu tiên phong chức Hồng Y “ẩn danh” (in pectore), nghĩa là không cần phải công bố công khai về viêc phong chức này. Thì những vị Hồng Y “ẩn danh” này sẽ bị mất chức nếu như không “ra công khai” trước cái chết của vị Giáo Hoàng đương nhiệm.

Vào năm 1431, Đức Eugene IV qui định rằng các vị Hồng Y sẽ không nhận được chức vị và danh hiệu cho đến khi nào các vị ấy lãnh nhận huy hiệu, chức hiệu nhiệm sở của các vị ấy.

Vào năm 1464, mũ đỏ đen (biretta), mũ chỏm đỏ (skull-cap) và áo khoác đỏ (mantle) được chính thức dành cho các vị Hồng Y dưới thời của Đức Phaolô II.

Vào năm 1555, Đức Phaolô IV chỉ định vị Hồng Y cao tuổi cư ngụ tại Rôma sẽ chính thức trở thành vị Niên Trưởng của Hồng Y Đoàn.

Vào năm 1563, Công Đồng Trent dưới thời của Đức Piô IV, ra sắc chỉ rằng những vị Hồng Y nên được chọn từ các quốc gia Kitô giáo và những nếu những vị ấy đang là những vị Giám Mục tại các hiệu tòa địa phương, thì các vị ấy cứ vẫn ở đó, hơn là dọn tới sống tại Rôma.

Vào năm 1630, Đức Sixtus V phong danh hiệu “Eminence” (Đức Giáo Chủ) cho các vị Hồng Y.

Vào năm 1724, Đức Bênêdictô XIII ra sắc chỉ rằng vị Hồng Y Niên Trưởng sẽ phải là vị Hồng Y có nhiều năm nhất bất luận là vị ấy cư ngụ tại đâu đi nữa.

Vào năm 1882, Đức Lêô XIII cho phép việc bầu chọn ra vị Giáo Hoàng trong những trường hợp khác thường như trường hợp thành Rôma bị xâm chiếm (vào năm 1870 bởi quân Ý) qua Tông Hiến Praedecessores Nostri.

Vào năm 1910, Đức Piô X thiết lập ra các vị Giám Mục phó (suffragan bishop) để cai quản các giáo phận Rôma và đảm nhận bớt các chức vụ quản lý hành chánh thường ngày của những vị Hồng Y Giám Mục, vốn hết sức bận rộn.

Vào năm 1915, Đức Bênedictô XV phục hồi toàn quyền cai quản các giáo phận Rôma cho các vị Hồng Y Giám Mục

Vào năm 1917, cũng chính Đức Bênedictô XV công bố ra Bộ Giáo Luật 1917 (Code of Canon Law), tổng hợp tất cả những luật lệ tổng quát của Giáo Hội, trừ những luật lệ có liên quan đến việc tổ chức Giáo Triều Rôma (Roman Curia), việc vị Giáo Hoàng đương nhiệm chết đi và việc bầu chọn ra vị Giáo Hoàng mới.

Vào năm 1922, Đức Piô XI qui định rằng Cơ Mật Viện phải được bắt đầu từ ngày thứ 15 cho đến ngày thứ 18, sau khi vị Giáo Hoàng đương nhiệm băng hà.

Vào năm 1929, cũng chính Đức Piô XI ký thõa ước Lateran với Ý Quốc, và một trong những điều khoản đó là một Cơ Mật Viện không bị sức ép từ bất kỳ phía nào.

Vào năm 1965, Đức Phaolô VI ra sắc chỉ Ad purpuratorum patrum (là loại văn kiện thuộc dạng motu proprio) qui định rằng những vị Giáo Trưởng theo các Lễ Nghi Đông Phương, khi được phong Hồng Y, thì các vị ấy sẽ không có hiệu tòa tại Rôma, mà vẫn thuộc về các Tòa của Giáo Hội Đông Phương.

Vào năm 1970, bằng văn kiện motu proprio Ingravescentem aetatem, Đức Phaolô VI giới hạn việc vào Cơ Mật Viện, và chỉ những vị Hồng Y nào chưa đến tuổi 80, mới đủ quyền để bầu chọn Giáo Hoàng.

Vào năm 1973, cũng chính Đức Phaolô VI giới hạn con số các vị Hồng Y cử tri là 120 vị.

Vào năm 1983, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị công bố việc cải cách Bộ Giáo Luật. Cũng giống như Bộ Giáo Luật 1917, những luật lệ có liên quan đến việc tổ chức lễ nghi cho cái chết của vị Giáo Hoàng đương nhiệm và việc bầu chọn ra vị Giáo Hoàng mới phải là những luật lệ tách rời, không có đính kèm trong Bộ Giáo Luật.

Vào năm 1996, Đức đương kim Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị công bố ra Tông Hiến Universi Dominici Gregis. Ngài tái khẳng định về luật bầu ra vị Giáo Hoàng mới thông qua 2/3 số phiếu bầu. Ngài cũng thành lập khu cư ngụ Domus Sanctae Martha trong Vaticăn để dùng đặc biệt trong suốt thời gian diễn ra Cơ Mật Viện.

(Còn tiếp. ....)