Ký sự cuộc hành hương Toà thánh Vatican
(trong những ngày cuối cùng cuả Đức Giáo Hoàng Jean Paul ll)
Lý do viết bài ký sự nầy
Tôi lớn lên khi đất nước tôi hô hào toàn dân đoàn kết. Trên toàn quốc, mấy chữ « Đoàn kết là sống » (l’union fait la force) là một trong những khẩu hiệu tranh chổ ngồi trên các bức tường. Tại thành phố Huế, hôm đó giửa rừng người, tôi theo đoàn quân nhạc dẫn đầu buổi tiễn đưa linh cữu vua Thành Thái đến nơi an nghỉ cuối cùng. Xưa nay tôi không biết những đám ma cuả các vị vua chúa tiền nhiệm đã diễn ra thế nào, nhưng hình dung lại đoàn người đi dư lễ đám tang vua Thành Thái tại Huế năm xưa, tôi nghỉ rằng đất nước tôi đã bỏ lở một dịp đoàn kết nhân dân cho lịch sữ. Vì thuở đó không bao giờ người Pháp dành cho một cuộc tập trung nhân dân như vậy. Từ bên kia cầu Đập Đá đến truớc trường Quốc học, nhân dân khóc cho vua Thành Thái hay cho Đất nước Việt nam ? Câu hỏi đó lúc bấy giờ hoàn toàn nằm ngoài trí óc tôi.
Tiếp đến là thời kỳ mà cựu hoàng Bảo Đại từ Hồng kông hồi hương về chấp chánh. Thực ra chỉ là chuyện chọc cười, bởi lẻ người Việt lúc bấy giờ chẳng khác nào như những tổ chức chính trị tại hãi ngoại hôm nay, chỉ vì miếng đĩnh chung, muốn trục lợi cho riêng mình, cho đảng phái mình, đã chia rẻ trầm trọng, chẳng làm nên được trò trống gì. Tất cả đều trong tay bọn tân thực dân Pháp. Theo quyển Le Dragon do chính cựu hoàng Bảo Đại viết, thì trước tình thế đó, chính Ngài đã viết thư mời ông Ngô đình Diệm đứng ra lãnh đạo một tân chính phủ với toàn quyền hành động. Chứ không phải như lời tuyên truyền cuả các phe phái chống đối trong nước Việt nam nói Mỹ đưa Ngô đình Diệm về chấp chánh. Ông Ngô đình Diệm đã có công ít ra là người khai mào một luồng gió mới trong lối nhìn cuả lớp trẻ về văn minh và dân chủ. Nhưng mộng ông chưa thành thì đã bị đám quân phiệt được Mỹ mua chuộc nổi lên giết chết. Tư bản Mỹ đã thành công trục lợi sau khi đưa một số người không am tường chính trị lên cầm quyển đất nước Việt nam. Trong một dịp may hiếm có, tôi rời khỏi quê hương cho đến nay chưa có dịp về thăm xứ sở.
Nhớ lại lần trong lớp tôi bắt chước câu châm ngôn kia để dạy học trò. Thay vì « l’union fait la force » (đoàn kết là sống), tôi lại nói : «l’oignon fait la farce» (củ hành làm farce). Học trò cả lớp đều cười to, đến nổi sư huynh giám thị (frère préfet) phải chạy lên dòm ngó!. Tôi không rỏ có cậu học trò nào trong lớp hiểu ý tôi muốn nói gì hay không ?. Bởi lẻ câu nói khôi hài đó có ẫn ý sâu xa hơn. Vì chữ « farce » có hai nghỉa. Nghỉa thứ nhứt là trò hề. Nghỉa thứ hai là nhân thịt cá nhồi trong bụng lươn hay gà vịt trước khi đem chiên. Củ hành làm sao mà trở thành trò hề đưọc. Củ hành cũng đâu phải là thịt hay cua tôm mà làm thành nhân. Củ hành chỉ làm cho chúng ta chảy nước mắt. Khi không có củ hành mà con người chảy nước mắt, tức là người đó có vấn đề « đau khỗ » mà không biết nói với ai. Thực ra ngụ ý tôi muốn khuyên học trò rằng nếu mai sau, các bạn không biết chính trị, thì nên tìm môi trường khác mà sinh sống. Nếu các bạn là sĩ quan, là tướng lãnh, thì nên nuôi dưỡng tình nghĩa « huynh đệ chi binh ». Nếu bạn là nhà kinh doanh thì nên tìm cách cho nền kinh tế nước nhà phát triễn. Nếu bạn là kẻ tu hành thì nên giúp tín hữu con chiên giử nền luân lý và đạo hạnh. Nếu bạn là nhà giáo dục thì nên khai phóng nghệ thuật và văn chương...Nếu các bạn không biết chính trị mà làm chính trị lèo lái con thuyền quốc gia, thì chỉ là đem đại họa đến cho đất nước và dân tộc, trong đó có gia đình cha mẹ và ông bà cuả các bạn.
Hôm nay tại hãi ngoại, qua tin tức báo chí và đài truyền hình suốt hai tháng nay, tôi muốn thực hiện một cuộc hành hương âm thầm tại toà thánh Vatican, với mục đích cầu nguyện cho vị Cha cả cuả Giáo hội, một nhà lãnh đạo chưa từng có trong lịch sữ Giáo hội Thiên Chúa giáo về cả Đạo lẫn Đời. Thật vậy, về Đạo, đức Thánh cha Jean Paul ll đã can đảm dấn thân mở rộng tầm nhìn cuả Giáo Hội qua chủ trương cộng đồng Vatican ll, Ngài hiệp thông với tất cả các tôn giáo trên hoàn cầu, trong đó đáng kể nhứt là với đạo Juif cuả người Do thái. Ngài cương quyết lên án nghiêm khắc những việc tẩy rữa thai nhi, đồng tình luyến ái, nhân tạo bào thai. Về Đời, Ngài là nhà chính trị chống lại mọi quyền lực độc tài dưới bất cứ ý thức hệ nào, kể cả tư bản hay cộng sản, qua phong trào đòi hỏi Quyền làm Người. Trước mắt Ngài, khi người cộng sản vô thần cố tận diệt các tôn giáo hữu thần, thì chính Ngài là nhà cách mạng có một không hai đã làm cho thế giới cộng sản tan rã không tốn máu xương. Nhân loại đã thoát khỏi một ý thức hệ kềm kẹp con người trên mọi phương diện. Đây cũng là câu trả lời thiết thực nhứt cho Staline khi ông đưa ra câu hỏi dèm pha Giáo hoàng Pie Xll rằng : « Thử hỏi sau lưng đức Giáo Hoàng có bao nhiêu sư đoàn ? » Một điều đáng tiếc là Ngài ra đi khi đất nước quê hương tôi chưa thu được toàn vẹn quyền Tự do làm Người và nhân dân còn quá khỗ. !
Tôi biết cái chết sẻ không từ một ai, đó là lẻ công bằng mà Thiên Chuá đã dành cho mọi người, kể cả đức Thánh Cha, vị đại diện Chúa trên trần gian. Nhưng trong tiếng nói dân gian người Việt lại có câu đáng suy gẩm « súc vật chết để da, người ta chết để tiếng ». Chữ « Tiếng » hàm ý là muôn đời. Đó là những dòng ký sự sau đây.
Trước khi ra đi
Tôi đã chuẩn bị cuộc hành hương đơn độc nầy cả 2 tuần nay, nhưng chưa nói cho ai biết. Bởi lẻ hơn 40 năm nay chưa lần nào tôi xa nhà không có vợ con bên cạnh, mà đây là lần đầu tiên, tôi muốn đi một mình, chắc sẻ có nhiều chống đối cuả mọi người trong gia đình. Thật vậy, khi tôi vừa nói ý định cuả tôi ra cho mọi người biết, thì vợ con tôi chống đối ngay. Tất cả đều vịn cớ đại khái rằng tuổi tôi đã quá cao, đi một mình lở đêm hôm xẩy ra điều không may thì hối hận không kịp. Hơn nửa tôi ở Úc 6 tháng vừa mới về, thì cũng nên đi khám sức khoẻ tổng quát một lần rồi sau đó đi đâu cũng được. Nhưng ý định đi Rome cuả tôi lần nầy không phải là đi xem di tích lịch sữ như hai lần trước, mà đi với mục đích khá đặc biệt. Tôi thực hiện cuộc hành hương cầu nguyện cho vị lãnh đạo Giáo hội Thiên chúa giáo và cho quê hương Việt nam. Lần đầu mà cũng là lần chót, tôi xin vợ con tôi đừng nên ngăn cản. Đến đây, mọi người hoan hỷ.
Phần khác, tôi nghỉ rằng nếu có vợ con tháp tùng lần nầy thì « bận bịu » lắm, nhất là tìm cho ra chỗ trọ đêm hôm. Nếu chỉ một mình tôi, là đàn ông già cả, lở không thuê được ô-ten thì « cứ đâu bạ đấy », miễn mình đừng có tác phong hạ cấp, phóng uế bậy bạ, thiếu văn minh. Vấn đề ăn uống cũng không phải là dễ, vì một mình tôi thì ăn sao cũng được, có gì ăn nấy. Hoặc giả có bà con cô bác nào thấy thân già tội nghiệp cho vài miếng bánh lót bụng cũng cảm ơn. Chứ có đàn bà cùng bên cạnh thì rất khó xữ !. Các bà Việt ta thì thà chịu đói chứ không dám ngữa tay đón miếng bánh mì cuả người chưa quen biết. Hơn nữa, ăn uống bên Ý đắt đỏ lắm. Nếu đem giá cả bên nầy so sánh với giá cả bên Pháp, bên Bỉ nhứt là bên Mỹ hay bên Úc, người Việt nam mình phần đông « xót bụng », không dám ăn. Nếu có ăn thì may ra là tìm mấy dĩa « pát chiên bơ » (pâte au beurre), vì món « pát chiên bơ» là món ăn thường nhật cuả người Ý. Xưa nay nhờ vậy nên nước Ý có tiếng sản xuất « pát » đứng đầu thế giới và « pát » cuả Ý lại ngon, sạch, và rẻ hơn mì Tàu nhiều lắm.
Nói đến chuyện ăn cuả người Ý thì tôi nghỉ đến người Tàu ở mấy quán China Town. Tôi thấy hai sắc dân nầy tiêu thụ mạnh « pát hay mì » hơn người Việt mình. Họ mở mắt ra là « pát hay mì », mổi người vài dĩa hay vài tô là chuyện thường. Người Ý mổi lần vào nhà hàng thì dĩa « pát chiên bơ » là dĩa nhập khẩu (plat d’entrée), nói theo người Việt mình là dĩa « lót miệng ». Sau đó họ mới đi vào dĩa chính thức (plat principal) hoặc cá, hoặc thịt. Cuối cùng họ kết thúc bằng một ly cà-phê expresso thật đậm. Người Tàu cũng đâu thua. Sáng sớm vừa đánh thức, chẳng cần rửa mặt súc miệng, ra quán gọi một tô mì to bự. Tiếp đến là dĩa gìo cha quảy kèm theo dĩa cơm chiên. Hai sắc dân nầy chì khác nhau ở chổ « làm ồn ào » tại nơi cộng cộng. Khác với người Ý, người Tàu hể ngồi vào bàn ăn là tranh nhau nói. Giọng nói cuả họ tưởng chừng như đánh lộn nhau. Mạnh ai nấy được, cứ « la lối um xùm », chẳng cần nghỉ đến sự phiền hà cuả thực khách bên cạnh.
Vốn có cái tính ưa làm nghịch đời, nên tôi chọn ngày thứ sáu 1/ 4 làm ngày khởi hành. Vì bên xứ Bỉ, nơi tôi đang tạm trú, thường gọi ngày 1 tháng 4 là ngày « poisson avril ». Ngụ ý là ngày chẳng làm được việc gì đến nơi đến chốn, cái ngày « nghịch đời », cái ngày nói « có » tức là « không » và nói « không » tức là « có ». Tóm tắt ngày mồng 1 tháng 4 là cái ngày « chọc quê » nhau. Khi ra nhà Gare du Midi để mua vé tàu tốc hành, một loại xe lửa Âu châu với vận tốc gần 300 km/giờ, thì biết là xe tốc hành Âu châu chỉ đi đến Nice hay Menton, hai thành phố cực Nam nước Pháp mà thôi. Muốn đi Rome thì phải mua vé xe lửa cuả Ý. Và trên khoảng đường từ Menton hay Nice đến Rome còn thay xe hai lần, thì giờ trên duới 17 tiếng đồng hồ. Thấy quá bất tiện, tôi liền đổi ý đi mua vé máy bay. Tại đây lại còn thêm chuyện rắc rối khác! Người bán vé máy bay Charleroi-Rome cho biết không còn chổ trống. Nếu tôi muốn đi thì sáng mai thứ bảy cứ lên túc trực tại sân bay, hể có chổ thì tôi là người ưu tiên. Thế là đành theo lời đề nghị cô bán vé và sáng hôm sau, thứ bảy 2/4, tôi đã có mặt tại sân bay Charleroi lúc 7 giờ sáng.
Đúng vậy, tại sân bay Charleroi hôm nay chật ních du khách đến Ý. Tôi nghe nói cả 2 ngày nay ban giám đốc hảng Ryrnair cho tăng viện thêm hai chuyến Charleroi - Rome. Giá vé cũng tăng vì chuyền đi Charleroi-Rome thì đầy nhốc, mà chuyến trở về Rome-Charleroi thì trống chỗ. Vỏn vẻn hành trang chẳng có gì ngoài chiếc ba-lô gồm 2 bộ áo quần, một túi ngủ, 3 chai nước và vài dụng cụ máy móc thu thanh chụp hình, nên tôi cảm thấy cũng dễ chịu. Nhưng cũng vì cái « dễ chịu nầy » mà trước khi ra đi tôi còn bị vợ con cằn nhằn rằng tôi làm biếng, không sợ dơ bẩn người ta cười hay sao ! Tôi thì nghỉ rằng mình là đàn ông chứ đâu phải là đàn bà đi đâu cũng lềnh kềnh làng càng nào phấn nào son, nên cứ lấy cái « văn nghệ tính » mà cười cho vui cữa vui nhà. Hơn nửa, thời buổi bây giờ chán gì tiệm giặt ủi « hoả tốc ». Ví bằng không có tiệm giặt ủi « hoả tốc» nào, thì tôi cứ gửi số áo quần dơ vào mấy cái poubelle dọc đường là tiện nhứt. Đở nặng vai.
Ngồi trong phòng đợi tại sân bay đã khá lâu. Cà phê, bánh ngọt đã hết mấy tua, tên tôi vẫn chưa được gọi. Nhìn sang bên cạnh bàn tôi, có cặp tình nhân trẻ đang tranh luận về dỉ vảng cuả đức giáo hoàng Jean Paul ll, và tôi đoán chừng cô thì cương quyết đi Rome và cậu thì tỏ ra thất vọng, không mấy hài lòng. Bụng bảo dạ trên đời nầy chẳng có ai làm vừa lòng mọi người !.Một người đàn ông to bự, râu ria xồm xoàm, vai choàng khăn đỏ nghiệp đoàn đãng xã hội (labor), đến trao tôi một tờ truyền đơn trong đó kể lại lai lịch đức Thánh Cha Jean Paul ll tuần tự Ngài sinh năm 1920 tại Wadovice, đi tu chui năm 1942 tại Cracovie, chịu chức linh mục năm 1946, thụ phong Giám mục năm 1958, Hồng y năm 1967, và đến năm 16/10/1978 được bầu làm Giáo Hoàng. Suốt 26 năm trên cương vị Giáo Hoàng, những việc đáng chú ý đã xẩy ra vào năm 1981 bị Ali Agca ám sát tại quảng trường Saint-Pierre, năm 1993 du hành sang Phi châu và tại đây Ngài chống đối việc ngừa thai, năm 1994 Ngài cho thiết lập quan hệ ngoại giao với Israel, năm 1998 Ngài sang thăm Cuba và năm 2000 thân chinh thăm thánh địa Jérusalem và tại đây Ngài công khai xin lỗi những bất công mà Giáo Hội Thiên chuá giáo đã đối xữ với người Do thái theo đạo Juif. Tờ truyền đơn lại không quên ghi rỏ đức thánh cha Jean Paul ll là vị giáo hoàng bảo thủ, vị giáo hoàng chính trị, vi giáo hoàng nhân quyền, vị giáo hoàng hoà giải, vị giáo hoàng luân lý, vị giáo hoàng du hành và vị giáo hoàng thần tượng cuả tuổi trẻ. Tôi tự nghỉ thì ra đức Giáo Hoàng Jean Paul ll đã chiếm được lòng nhiều tổ chức chính trị và nghiệp đoàn tại quốc gia nấy.
Đồng hồ đã chỉ 2 giờ chiều, bụng thì chưa đói nhưng sao cứ hồi hộp bồn chồn và dường như có một sự thúc đẩy vô hình nào đó bắt tôi phải vào quán uống bia. Một chai, hai chai, rồi...ba chai, tôi cứ tiếp tục uống trong suốt thời gian đợi cô bán vé gọi tên. Cơn gió lạnh cuả miền núi than đá vùng Charleroi tràn tới báo hiệu trời sắp tối và tôi cũng sữa soạn định ra về. Tôi nhủ thầm đúng là ngày « poisson avril », người dân Bỉ nói không ngoa ! Cho hay mình cũng không quá tin tưởng vào khoa học mà coi thường kinh nghiệm sống cuả dân gian. Bổng dưng, từ chiếc micro có tiếng gọi tên tôi được lên danh sách đi Rome trong chuyến bay 5 giờ chiều nay. Để trấn an nổi mừng, tôi tự thưởng tôi thêm một chai bia nửa trước khi rời quán nước.
Ngồi trên máy bay mà ruột gan cứ bồn chồn hồi hộp vì chưa biết tối nay tôi sẻ làm gì ? Tôi không nghỉ đến việc tối nay tôi ăn ngủ ở đâu, mà chỉ nghỉ đến những lời cầu nguyện. Lẻ dĩ nhiên tôi sẻ cầu cho Đức Thánh Cha Jeau Paul ll chóng bình phục để đợi ngày đất nước tôi được tự do, và Ngài sẻ đến đây ôm hôn mãnh đất nầy như Ngài đã từng làm trên các đất nước khác. Thoảng trong óc tôi hiện ra ý nghỉ mông lung, một ý nghỉ hoàn toàn trái ngược với tâm niệm tôi, rằng tôi quá ích kỷ, quá bất công đối với Ngài ! Bởi lẻ, vì sao tôi chỉ nghỉ đến cái hạnh phúc cuả riêng tôi, cuả dân tộc tôi, mà tôi quên cái hạnh phúc cuả Ngài ?. Tôi cầu xin Thiên chúa cho Ngài sống lâu, dù Ngài phải đau khỗ phần xác thịt, để đòi hỏi đóng góp cho quê hương tôi con Người được quyền làm Người, nhân dân có quyền ăn nói, có quyền lập hội hè, có quyền tự do tín ngưởng. Trong khi đó, đáng lý ra tôi phải cầu xin cho Ngài sớm về nước Chúa, để cho Ngài lên chốn Thiên Đàng, để cho Ngài sung sướng sống đời đời bên cạnh Chuá. Tôi quả thật là nhỏ nhen ty tiện ! Quả thật là ích kỷ ! Trong khi tôi chưa tìm được một lối giải thích thoả đáng, thì có tiếng báo tin máy bay sắp hạ cánh xuống phi trường Ciampino (Rome). Đồng hồ chỉ đúng 7 giờ 30 tối. Tôi cám ơn Thiên Chuá cho tôi đến Rome hôm nay.
Tại thành Roma
Thì ra thế giới hôm nay hẹn nhau tập trung tại Rome, kinh đô nước Ý, để cầu nguyện cho giáo hoàng Jean Paul ll, chứ không riêng gì tôi. Thị xã Rome, nguyên xưa kia là tập họp một số làng mạc cuả hai sắc tộc Latin và Sabin trên những ngọn đồi có dòng sông Tibre chảy qua.Trước công nguyên thứ Vll đến thứ Vl, sắc tộc người Etrusques ở phiá bắc, theo dòng sông Tibre đi về hướng nam mang theo kỷ thuật xây cất và ngành hội hoạ tân kỳ, đến đây tạo thành một khu phố (cité) tráng lệ làm kinh đô cho cả đế quốc La mã. Qua thế kỷ thứ lll người Barbares (tên gọi chung cho nhiều sắc tộc không thuộc văn minh Hi lạp) đến xâm chiếm thì dân toàn khu phố rút vào trong hậu cứ phòng thủ Aurélien. Qua năm 330, vua Constantin lại cho xây thành Constantinople làm kinh đô thứ hai. Bị xem như ngoại dân thuộc quyền vua Constantin, người Barbares nổi lên quấy phá thành Rome suốt cả thế kỷ thứ V. Nhưng chẳng bao lâu người thiên chuá giáo đã phục hồi lại toàn thị xã và đặt vị Giáo hoàng quản trị Giáo Hội thiên chúa giáo tại đây.
Tôi nghe nói những chuyến xe lửa đỗ về thành Rome đã được chính quyền Ý cho tăng lên gấp bội. Hơn 40 chuyến một ngày. Nghiệp đoàn hoả xa Ý cũng đình hoản cuộc đình công như đã dự định từ lâu. Tất cả nhân dân và chính quyền Ý, hơn bao giờ hết, đã đoàn kết để phục vụ du khách suốt thời gian đặc biệt nầy.
Muốn vào nội thành Vatican, du khách phải di chuyễn bằng xe taxi hay tàu điện hầm (métro).Mà trạm xe điện hầm Ottaviano San Pietro là trạm gần nhứt để đến quảng trường Saint Pierre. Tối nay, những chuyến métro chạy về hướng Vatican cứ tiếp tục đỗ người ra như nước lũ. Tôi hình dung cảnh tượng nầy chẳng khác nào một đàn kiến đang chen chúc theo đưôi nhau chuyển tải những thức ăn trước cơn mưa sắp tới. Hoặc cả một đàn ong tung ra từ ổ, sau hòn đà hay cành cây cuả một đứa trẻ con tinh nghịch nào đó chọi nhằm.Thì ra càng văn minh chừng nào con người càng tiến tới lối sinh hoạt như những đàn kiến, đàn ong. Tôi nghỉ rằng cảnh tượng nầy chẳng khác nào lối sinh hoạt cuả con người thời đại chúng ta hôm nay Văn minh đang giúp con người tập dần cuộc sống cuả mình trong những hang động như loài ong kiến.. Sáng tập trung chui vào siêu thị. Tối thành đoàn tản mác về nhà. Chỉ vì con người đang thi đua với máy móc nên chưa đủ thì giờ để nhận ra mình chẳng khác gì ong kiến.
Hôm nay văn minh còn đưa con người đi xa hơn nữa. Con người càng ngày càng đông và vì thế, trái đất càng ngày càng thu hẹp lại. Để cho loài người có đủ đất sinh sống, văn minh vẽ ra những con đường tưởng tượng trên không trung để tránh tại nạn cho máy bay chuyển tải con người đi sinh hoạt. Hiện tại vấn đề xăng nhớt và thời giờ là quan trong nên văn minh lại chế ra những máy bay chuyên chở khổng lồ 380 dự trù chuyễn tải trên 500 du khách. Tôi tự hỏi, với diện tích thành Rome vỏn vẹn 44 hectares, vài ngày sắp tới liệu có đủ sức chứa hết số người đến đây cầu nguyện cho đức Thánh Cha ?
Rảo mắt qua thành phố Rome, ôi thôi, người là người. Hàng triệu người!. Già có, trẻ có mà con nít cũng có mang theo! Họ rải rác dọc đường, tại các thánh đường Gioan Latarano, Đức Bà, thánh Phaolồ ngoại thành, hoặc tụ tập tại khu đại học Rome, tại sân vận động, hí trường Colosséo, circus Maximus, quảng trường Polono hoặc tại lề giửa quảng trường Risorgimento, những nơi nào có màn ảnh vĩ đại vừa mới mọc lên như hoa nở đầu xuân. Thực ra tôi chỉ hình dung khổ người to nhỏ mà phân biệt người lớn và trẻ con, vì mọi người đều cúi sấp mặt cầu nguyện và lần hạt. Tôi cũng chẳng muốn làm gì hơn, chỉ mong mau đến quảng trường Saint Pierre trong nội thành Vatican. Vừa đi vừa nguyện thầm cầu xin Thiên Chúa và Mẹ Maria cho đức thánh cha Jean Paul ll được bình phục để dẫn dắt Giáo hội, để góp tay đem lại tự do thanh bình cho quê hương Việt nam. Lời cầu nguyện cuả tôi nhịp theo bước chân người như thác đỗ về quảng trường Saint Pierre.
Đúng 8 giờ tối, tôi thấy sức tôi hôm nay đến đây không thể nào đi xa hơn được nửa và nên tìm ngay một góc thành hay duới một cột đèn để nghì qua đêm. Tôi không thấy đói bụng, nhưng cảm thấy khát nước. Dù cho trong ba-lô còn 2 chai nước, nhưng tôi không dám uống, vì nghỉ lại vấn đề đi toilet cũng ngặt nghiệt!. Đêm nay đúng là đêm đông Úc châu, hàn thử biểu trên dưới 10 độ bách phân, nhưng bầu trời thành Rome bị đốt cháy bởi khí CO² cuả cả triệu người nên tôi vẫn thấy nực nội. Hướng mắt về thánh đường Saint Pierre, thu mình trong túi ngủ tôi cầu nguyện. Thỉnh thoảng tôi nghỉ lại cũng buồn cười vì trong những lời cầu nguyện cuả tôi chỉ võn vẹn xin Thiên Chuá cho Đức Thánh Cha sớm bình phục và cho quê hương Việt nam tôi được Tự do Thái bình. Thì ra hành trình từ Bruxelles đến Rome trí óc tôi nghèo nàn lắm thế ư ? Con người lắm lúc tự phụ rằng mình biết nhiều, nhưng soát kỷ lại chẳng ra gì khi đứng trước thiên địa trùng trùng. Con người sẻ thay nhau hủy hoại nhưng vạn vật còn tiếp nối và Thiên Chúa còn hiện hữu.
Trên phần đất Vatican
Việc còn lại trong trí tôi là cố gắng tìm cách định hướng vùng đắt Toà thánh để bà con những ai chưa có dịp đến Vatican biết sơ qua địa thế. Điều nên nhớ là thành phố Rome khác với toà thánh Vatican. Thành phố Rome thuộc nước Ý, còn Vatican thuộc Giáo hội Thiên chuá giáo. Nhưng toà thánh Vatican nằm trong vùng đất thuộc thành phố Rome mà viên thị trưởng là người Ý (cứ hình dung như Hoàng thành các triều vua tại Huế nằm trong khu vực thị xã Huế, trong thành nội là cuả Vua, ngoài thành nội là cuả thị xã Huế, hoặc dinh Độc lập trước 1975 nằm trong thành phố Saigon). Vì lý do đó nên qua nhiều thế kỷ toà thánh Vatican cứ bị chính quyền Ý khiêu khích muốn chiếm lại. Mải đến thời kỳ Mussolini nhượng bộ hẳn cho Toà thánh dưới triều đại Giáo hoàng Pie X. Kể từ ngày 7/6/1929 Vatican mới được cộng đồng thế giới chính thức công nhận là một tiểu quốc. Vì thánh địa Vatican đã được xem như một tiểu quốc, nên nơi đây có một tổ chức hành chánh thuộc quyền đức Giáo hoàng. Đến triều đại đức giáo hoàng Jean Paul ll, kể từ ngày 28/6/1988, hội đồng chấp chánh GiáoHội được cải tổ dưới hình thức một chính phủ, trong đó gồm có một vị thủ tướng (tức là vị niên trưởng Hồng Y Đoàn), 9 bộ trưởng, 3 toà án, 12 cố vấn cho đức Giáo Hoàng, 5 bộ phận hành chánh quản trị tài nguyên giáo hội và một bộ phận kinh tế chuyên lo về tài chánh cho giáo hội. Dưới giáo triều Jean Paul ll, chức thủ tướng của Hồng y Ratzinger thì gọi là vị niên trưởng Hồng Y Đoàn, chức bộ trưởng ngoại giao cuả Hồng y Leonardo Sandri thì gọi là phát ngôn viên Đức thánh Cha, bộ nội vụ cuả Hồng y Somado thì gọi là Hồng y nhiếp chánh, bộ lễ cuả Hồng y Marchissano thì gọi là vị Kinh sữ đền thờ... v.v. Luật lệ thì gần giống như luật lệ nước Ý. Án tử hình đã bải bỏ từ năm 1960. Trong thành Vatican cũng có siêu thị, bưu điện, đài phát thanh và truyền hình, trạm xăng, nhà thuốc tây và tờ nhật báo Osservator Romano. Đặc biệt là tại Vatican không có trường học thường trực, nhưng có những trạm y-tế dân sự túc trực ngày đêm « miễn phí ». Lương hướng những nhân viên tại Vatican tùy theo chức vụ xê xích trong khoảng 500 đến 1500 đô la cho một tháng và được miễn thuế. Không có nghiệp đoàn chính thức, nhưng có một tổ chức trọng tài giửa chủ và nhân viên.
Võn vẹn 44 hectares nhưng 1/3 diện tích đã dành cho công viên, còn lại là các đền đài dinh thự chu cấp cho khoảng 700 dân sự, trong đó đại diện ngoại giao đoàn đã chiếm hết phần nửa, 50 vị Hồng y, trên 50 chức sắc phục vụ cho toà thánh và 110 vệ binh người Thụy sĩ lo an ninh cho đức Giáo hoàng và thánh địa.
Trong số dinh thự tại nội thành Vatican, nếu từ quảng trường thánh Saint Paul nhìn vào thánh đường Saint-Pierre), thì bên tay trái là toà án, tiếp đến là một dinh thự nguyên là nhà triều kiến đức Thánh Cha (salle des audiences pontificales), đến thời Giáo Hoàng Jean Paul ll được sữa chữa làm nhà trọ cho các đức Hồng y hay Giám mục mổi lần đến Vatican làm việc. Trong dịp họp bầu đức tân giáo hoàng lần nầy, tất cả các vị Hồng Y đi bầu đều trú ngụ tại đây. Đi sâu vào phía sau lưng thánh đường St-Pierre, ngay góc thành phía trái có một sân bay trực thăng. Kế cận về bên phải thánh đường Basilique St-Pierre là toà thánh đường Sixtine. Đây sẻ là nơi 118 vị Hồng Y họp bầu đức tân Thánh Cha sắp tới. Cứ nhìn về phiá bên phải nhà thờ Sixtine, mọi người đều thấy tuần tự một trung tâm tủ sách Toà thánh (bibliothèque), một trung tâm mỹ thuật hội hoạ (Pinacothèque), viện bảo tàng Pio-Clementino và viện bảo tàng Chiaramonti. Nối liền với các trung tâm nầy, là nơi cư trú cuả đức Thánh Cha, nằm sát gần bên phải quảng trường St-Pierre.
Tại quảng trường Thánh Phêrô
Tôi đến đây khi bầu trời Vatican vang tiếng hát « Ave Maria...Ave Maria » dưới hàng ngàn ngọn đèn soi sáng mọi hóc hẻm lối đi. Xung quanh tôi lớp lớp thanh niên thanh nữ hướng mắt về hai cánh cữa sổ còn ánh đèn, đang lần chuổi hạt và cầu nguyện cho Đức thánh Cha trong giờ hấp hối. Thỉnh thoảng họ cất tiếng hát và vỗ tay để nhớ lại những gì mà Ngài đã dành riêng cho họ trong những lần họp mặt toàn cầu. Chắc cũng có vài thanh niên thanh nữ nghỉ rằng những tiếng hát và những tràng pháo tay cuả họ sẻ tạo thêm nguồn sinh lực cuả Ngài. Trước thánh đường Saint Pierre, đức hồng y Leonardi Sandri, phát ngôn viên cuả Đức Thánh Cha, loan tin sẻ có buổi cầu nguyện nữa đêm và buổi cầu nguyện vào sáng mai lúc 10 giờ 30 do đức Hồng y Angelo Sonado, quốc vụ khanh, làm chủ tế.
Trong khi một số người quanh tôi đang soạn sửa ra về hay di chuyển đến một nơi khác, tôi thấy cánh cữa thứ ba trên lầu đức Thánh Cha mở đèn. Không bao lâu, trên mọi màn ảnh khổng lồ dựng khắp quảng trường, đức giám mục Sandri hiện hình, tiến dần đến micro và tuyên bố : « Đúng 21 giờ 37 phút, vị Cha cả cuả chúng ta đã trở về nhà Chuá ». Toàn cả quảng trường đều im lặng, một sự im lặng lạ lùng chẳng khác nào như đứa trẻ con ăn cơm mắc nghẹn, không thở được !. Không gian Vatican chỉ nghe tiếng róc rách cuả mấy vòi nước vô tình gây nên tiếng động. Vài phút trôi qua, chẳng cần ai bảo ai, mọi người qùy gối: «khóc» !. Trong số đó, không phải chỉ là nam nữ tu sĩ mà có cả những thanh niên, quần jean, áo thụng, tóc dài, tai đeo hoa cườm, vai đeo ba-lô, đến từ khắp nẻo phương trời cũng đang khóc như trẻ nhỏ. Giửa những cặp tình nhân ôm chặt nhau, thoa vai thoa đầu, tỏ dấu an ủi nhau trước một sự sắp đặt cuả Thiên Chúa, đức hồng y tổng bộ ngoại giao Angelo Sodano cất cao bài « De Profundis », kinh cầu cho người vãng khuất. Những đoàn thanh niên nam nữ ngồi bệt xuống đất, tay cầm đèn nến và đèn pin, đôi mắt đỏ nhoè vì không cầm giử được giọt nước mắt.
Bổng tự nhiên, một bầu không khí vui nhộn trở lại làm đổi hẳn quảng trường qua tiếng hát « alléluia ». Những tràng vỗ tay kéo dài xé cả không gian cho đến lúc tất cả 3 cánh cữa nơi cư trú cuả đức Giáo Hoàng sáng rực và cánh cữa bằng thiếc cuả thánh đường Saint Pierre hé mở. Mấy người bên cạnh cho tôi biết đó là một dấu hiệu tang tóc cuả Giáo hội. Tiếp theo là hồi chuông báo tữ dội ra từ gác Saint André về phía bên trái thánh đường Saint Pierre kéo theo những tiếng chuông khắp cả thành Rome.
Tôi đang trầm lặng giửa không gian như ngừng chạy, bổng vang lên tiếng khóc cuả một bà lão bên cạnh.và tiếp theo câu nói cuả một vị nữ tu : « Thôi con xin bà đừng khóc nửa. Bây giờ đức Thánh Cha đã hết đau khỗ thể xác. Ngài đã về nhà Chuá ». Tôi bảo thầm « xin nguyện được như vậy ». Nhưng có điều tôi lấy làm lạ là dọng nói mạnh dạn vị nữ tu không đi đôi với lòng mình, vì chính hai khoé mắt bà vẫn ướt. Có thể nước mắt là hậu quả những tâm trạng đau khỗ nhứt hay vui sướng nhứt cuả con người chăng ? Đau khổ cũng chảy nước mắt, mà vui sướng quá cũng chảy nước mắt. Hôm nay chính nước mắt cuả những người hành hương trên quảng trường nầy rất đặc biệt. Nước mắt họ đã tái tạo lại sự đông đặc ngưồn hy vọng khi người ta nghỉ rằng cái chết con người không phải là một sự kiện đơn độc mà chỉ là một chuyến qua đường trở về lòng Mẹ.
Đúng 23 giờ, quảng trường Saint Pierre lấy lại trạng thái trầm buồn như lúc vừa báo tin. Cả một suối người ào ạt tràn vào. Điểm đáng chú ý là trong đó những ký giả và các đài truyền hình tới tấp nối đuôi theo tin đài ANSA Ý loan báo về quốc gia họ tin đức thánh cha Jean Paul ll đã tạ thế khá dè dặt. Đầu góc đường Via della Conciliazione nơi hàng trăm đài truyền thông và truyền hình trang bị antenne hình bầu dục cuả các hảng thông tin trên thế giới, những chiếc xe di động mang theo ký giả đang thực hiện các cuộc phỏng vấn những người qua lại. Có những người tò mò đến đây đã tỏ ra hứng thú khi cầm chiếc micro cuả nhà báo để trả lời. Lối săn tin cuả các ký giả báo chí và đài truyền hình hôm nay làm tôi nhớ lại hiện tượng bối cảnh trong film Fellini chiếu về quang cảnh đại hội phim ãnh tại thành phố Venise, chẳng khác chút nào. Các ký giả và các diễn viên truyền hình đã đóng trại ngoài trời cạnh bên biệt thự truyền hình cuả thành phố Venise để tìm những chuyện « bới lông tìm vết ». mà nghỉ thầm rằng: « đó là chuyện làm ăn trong nghề nghiệp cuả báo chí ». Có như vậy mới ăn tiền. Có như vậy báo chí mới bán chạy. Nhưng lần nầy chắc hẳn nhà báo không thể viết không đúng với sự thật.
Gần 12 giờ đêm, phòng báo chí mầu xanh da trời Vatican ở ngay đầu góc quảng trường Saint Pierre đầy ký già quốc tế đã nhận được bản tin chính thức : « Đức Thánh Cha đã từ trần chiều nay tại phòng riêng cuả Ngài vào lúc 9 giờ 37 phút. Mọi thủ tục đã quy định trong thánh bộ đức giáo hoàng Universi dominici gregis mà đức thánh cha Jean Paul ll đã ban bố ngày 22/2/1996 đã được thi hành triệt để ». Chờ mải đến gần sáng chủ nhật, phát ngôn viên Tòa Thánh Joaquin Navarro Valls, thành viên Opus Dei, phát ngôn viên cuả đức Thánh Cha lại xuất hiện cho báo chí biết thêm nhiều chi tiết. Chẳng hạn tối qua thứ bảy lúc 8 giờ, đức Thánh Cha đã dự thánh lễ Divine Miséricorde ngay tại trong phòng Ngài, có sự hiện diện cuả chức sắc cao cấp người Ba lan. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, ngoài các bác sĩ và y tá, có hội đủ mặt xung quanh Ngài những người gia đình thân thuộc, hai vị thư ký riêng Dziwisz và Mokrzycki, một vị Tổng Giám mục, một vị Hồng y, nhiều nữ tu sĩ, một người bạn thân thuở thiếu thời, ông Tadeusc Styczen, tất cả đều là người cùng quê hương với Ngài. Chỉ vài phút sau giờ tắt thở cuả Ngài,mới có sự hiện diện cuả những nhân vật cao cấp cuả Toà Thánh, như hồng y quốc vụ khanh Angelo Sanado, hồng y Nhiếp chánh Aduardo Martines Somalo (để chứng thực giấy khai tử đức Thánh Cha) và vài vị trong Hồng y đoàn.
Sáng ngày chủ nhật, trên báo chí còn đăng tải thêm nhiều tin tức bán chính thức rằng trước khi trút hơi thở cuối cùng đức Thánh Cha còn nắm chặt tay Tổng Giám mục Sanislaw Dziwisz, thư ký riêng cuả Ngài và nói « Amen ». Có báo thì nói trước khi vĩnh biệt, Ngài đã vễnh mặt hướng ra cữa sổ, nơi Ngài thường hiện ra chúc lành tín hữu tụ tập trên quảng trường Saint Pierre và thì thầm những lời dành riêng cho giới trẻ : « Cha tìm các con và các con đã đến. Cha có lời cám ơn các con ».
Trước khi thánh lễ tại thánh đường Saint Pierre sáng ngày chủ nhật do đức Hồng y Sadano chủ tế, giửa đám đông tín hữu đang tràn ngập con đường Via della Conciliazione, hồng y Camillo Ruini, vị đại diện Đức Thánh Cha cai quản tổng toà thành Rome, mới tuyên bố đức Thánh cha Jean Paul ll thật sự đã từ trần kèm theo giấy khai tử cuả bác sĩ Renato Buzzonetti chứng thực « Đức Thánh Cha từ trần tiếp theo sau sự nhiễm trùng nặng và nhịp tim quá yếu, không thể cứu vãn nổi ».
Sau thánh lễ, mọi người vẫn chưa tản mác, dường như họ muốn ở lại thêm vài giờ để cầu nguyện cho sự vĩnh biệt cuả Đức Thánh Cha. Giửa những rừng cờ đủ mọi quốc gia phất cao trên đầu, tôi thấy có những băng luạ đen đính kèm. Vài biểu ngữ viết hàng chữ to tướng : Santo Subito (hàm nghỉa phong thánh ngay cho Jean Paul ll). Đàng xa có bà lão đang bị xây xẫm và mầy cô cứu thương xách băng ca chạy đến mang về trạm bệnh xá. Đó đây, nhiều người ngồi bệt xuống đất, tay cầm bánh mì xăng wuýt như đang đi dự cuộc cắm trại khổng lồ trên đất thánh. Vài cậu hướng đạo cất tiếng hát bài Ave Maria nhịp theo tiếng đàn guitare cuả mấy thanh niên bên cạnh giửa một khung trời buồn man mác. Cách xa tôi vài thước, một người đàn bà bồng con qúy gối khóc làm cho nhiều người không cầm được nước mắt và khóc theo bà.
Suốt ngày chủ nhật trên đài truyền hình Ý chiếu thánh lễ tại thánh đường Saint Pierre, với sự hiện diện cuả Tổng thống nước Ý, ông Azeglio Ciampi, cùng chính phủ và tất cả các chính trị gia Ý đến viếng đức giáo hoàng Jean Paul ll. Bao quanh bởi hai vệ sĩ người Thụy sĩ, đức Thánh Cha nằm trên bục trải thảm đõ, vẽ mặt thản nhiên, trong y phục mầu đõ sậm, đầu đội nón trắng và tay cầm chiếc gậy tượng trưng uy quyền Giáo hội. Sau thánh lễ chỉ một mình tổng thống Ciampi vào tận phòng Clémentine trong biệt điện đức thánh Cha để viếng thi hài người bạn lần cuối cùng. Theo chỉ thị cuả Toà thánh thì suốt thời gian ngày chủ nhật còn lại cho đến 17 giờ ngày mai thứ hai 4/4 dành riêng cho tất cả những vị chức sắc trong triều đình giáo hoàng, các vị ngoại giao đoàn và khoảng 3000 nhân viên phục vụ tại toà thánh Vatican viếng điếu thi hài đức Thánh Cha. Trong 3 ngày kế tiếp thi hài đức Thánh Cha được đưa ra trước đền thánh Saint Pierre để dành cho mọi người đến kính viếng lần chót Người mà chính đức Hồng Y Sodano trong buổi thánh lễ ngày chủ nhật công khai tuyên xưng « Đại đế Giovanni Paolo Đệ Nhị ».
Tối nay thứ hai 4/4, những đoàn thanh niên thanh nữ gánh gồng những xăng wuýt và nước uống đi phân phát cho mọi người. Cô thanh nữ thấy tôi già nua đến hỏi bằng tiếng Ý. Tôi chẳng hiểu và giơ tay làm dấu ngụ ý rằng tôi đang đói bụng và khát nước. Cô ta trao tôi 2 gói bánh và một lít nước. Tay tôi cầm bánh và nước do cô trao tặng, miệng nói : « Merci, mademoiselle ». Thế là cô ta cũng trao đổi với tôi bằng tiếng Pháp. Cô cho biết cô là người Pháp tháp tùng cộng đồng Taizé ở Lyon qua đây hành hương. Tôi cũng nói thật cho cô ta biết rằng tôi từ Bruxelles đến đây đã 3 ngày và trước đây tôi đã từng tham gia các buổi cầu nguyện tổ chức bỡi cộng đồng Taizé. Tôi cũng đã từng được gặp Frère Roger, bề trên Taizé tại Lyon. Tôi cũng đã có dịp nói chuyện trước hàng ngàn thanh niên thanh nữ, trong đó có người từ Tiệp khắc và Roumanie dưới thởi cộng sản, đến đây cầu nguyện.Tôi đã tham gia các cuộc cầu nguyện Hoà Bình cho Thế giới cùng với hàng ngàn thanh niên Roumanie tại Lyon (Pháp), hàng trăm thanh niên thanh nữ trong Opus Dei tại Barcelone (Espagne) khi đức cha Josemaria Escrivá de Balaguer chưa còn phong thánh, với hàng ngàn thanh niên thanh nữ tại Londres (Anh) và tôi cũng đã làm cho hàng ngàn thanh niên nam nữ trong buổi cầu nguyện Hoà bình Thế giới nhân ngày đầu năm tại Ý, sau khi nhắc chuyện Việt nam, trong những năm bức tường Bá linh chưa sụp đỗ, và cả nhà thờ đã theo tôi cùng khóc.
Đêm nay, trong chiếc túi ngủ, tôi bình tâm và suy nghỉ cũng là chuyện lạ cho tôi. Tôi thì thầm cám ơn Chuá và tự nói với mình rằng giá sử không có bánh và nước cuả cô kia cho, thì tôi cũng đành nhịn đói nhịn khát mà thôi. Sức già như tôi đến đây cảm thấy không còn chịu nổi và có biết tôi còn kéo dài thêm cuộc hành hương nầy nữa hay không ?.
Sáng ngày thứ ba 5/4, tôi nghe xung quanh có người bàn tán về việc ướp xác Đức Thánh Cha. Tôi nhớ lại trong một quyễn sách nói về cách ướp xác thời cỗ đại Ai cập. Thông lệ ướp xác chỉ dành cho phái trưởng giả và các gia đình quý tộc mà thôi. Dân thường không có quyền ướp xác. Trước khi gia đình có người chết muốn ướp xác, họ đến khai với một vị quan đại diện trong vùng và chỉ có vị nấy có quyền cấp giấy cho ướp xác hay không cho ướp xác. Vì vậy có nhiều lúc xẩy ra sự tráo xác giửa người thường dân và hàng qúy tộc trong những đêm tối trời hoặc mua chuộc được người canh xác.
Đại khái thi hài người chết được moi hết ruột gan phủ tạng, ngâm vào một hồ nước trước khi đem treo lên trên những cây gổ có hình thập giá, phơi nắng vài ngày. Đến khi xác người chết đã khô cứng, người ta mang về cuốn vào một loại vải bằng sợi gai lớn rồi đem đi chôn. Việc chôn cất cũng phải hết sức giử gìn kín đáo, không được cho người ngoài biết nơi đặt quan tài thực sự ở đâu. Vì nếu lở dân nghèo biết được thì đêm hôm họ đến moi xác người quá cố để lấy vàng bạc.
Tại Vatican, trước đây việc ướp xác thi hài các đức Thánh cha, người ta vứt bỏ tất cả các bộ phận trong cơ thể, đoạn bỏ thi thể vào một bình đất nung chín, đặt trong một nhà thờ nhỏ ở Trevi, Saints-Anastase-et-Vincent. Đến đời giáo hoàng Pie X lối ướp xác nầy được bải bỏ và cho dùng kỷ thuật mới. Hôm nay việc ướp xác người ta không cần phải lấy bỏ các bộ phận trong cơ thể người chết, mà chỉ tiêm vào người quá cố chất hormol sau khi rút hết chất nước và máu trong thi thể.
Theo báo chí đăng tải thì tại Rome, ông Massimo Signoracci, người chuyên môn ướp xác cho 3 vị giáo hoàng vừa qua đã nói : « Tôi sẳn sàng đợi lệnh Toà Thánh để thực thi việc ướp xác và tôi sẻ gắng làm như Ông nội tôi và cha tôi đã làm ». Ông cho biết, chính ông đã lo việc ướp xác cuả giáo hoàng Jean XXlll năm 1963, giáo hoàng Paul Vl năm 1968 và giáo hoàng Jean Paul đệ nhứt vị tiền nhiệm đức giáo hoàng Jean Paul ll cũng đã qua đời năm 1968. Kỷ thuật ướp xác cuả ông Massimo khá tân kỳ và được chứng minh khi dời mộ giáo hoàng Jean XXlll lên thánh đường Saint Pierre. Sau 38 năm, xác Ngài vẫn nguyên vẹn.
Nhưng vào giờ phút chót, đức cha Joaquin Natvarro-Valls, phát ngôn viên toà thánh loan báo rằng việc ướp xác cuả đức Thánh Cha, toà thánh không nhờ gia đình ông Massimi Signoracci đảm trách, mà nhờ vào viện y khoa Tor Vergata tại Rome dưới quyền điều khiễn cuả giáo sư Giovanni Arcudi.
Một việc khác cũng đáng lưu tâm. Đó là thư di chúc do chính đức thánh cha Jean Paul viết kể từ ngày 6/3/1979, sau gần một năm lên ngôi Giáo Hoàng. Chẳng có gì đặc biệt ngoài việc nhắc đến tên đức Tổng Giám mục Stanislaw Dziwisz, thư ký riêng cuả Ngài và vị thượng phụ (rabbin) thành Rome, đã tiếp rước Ngài tại nhà thờ Do thái vào năm 1986. Việc chôn cất thi thể cuả Ngài thì toàn quyền Hồng Y Đoàn quyết định. Vì sức khoẻ và đến tuổi 80, Ngài dự định thoái vị năm 2000 và việc nầy chỉ phó thác trong ý Chúa. Về cuả cải vật chất thì Ngài không có để lại gì cả. Sau cùng Ngài chỉ xin Giáo Hội đốt tờ di chúc nầy. Nhiều người còn bàn đến đoạn văn Ngài viết bằng tiếng Balan, trong đó có việc nâng cấp một Đức Giám mục Trung hoa lên hàng Hồng Y vào năm 2003, nhưng chưa thuận lợi đối với chính quyền Trung cộng lúc bấy giờ đã tạo lên một Giáo hội Nhà nước chống đối Giáo hội Vatican. Việc nầy chỉ có thể xẩy ra trong triều đại đức Giáo Hoàng kế vị, nếu giáo hoàng Jean Paul ll còn để lại dấu vết trong hồ sơ Giáo Hội.
Ngồi nhìn vào thánh điện Saint Pierre, sáng nay 12 cột trụ trước đền dội vào óc tôi nhiều suy nghỉ. Phải chăng nhà kiến trúc đã gợi lại cho mọi người ẫn dấu 12 vị tông đồ cuả chuá Jésus ? Chiều cao cuả tất cả các cột đều bằng nhau nói lên tinh thần bình đẳng trước dung nhan Chuá ?. Tôi nghỉ lại phần lớn trong những đền đài dinh thự, những kiến trúc đồ sộ, người kiến trúc sư thường để lại cho người đời sau vài triết lý nhân sinh cuả họ mà du khách ít người để ý. Chẳng hạn ở Huế mấy ai biết hai ngôi trường Đồng Khánh và Khải Định khác nhau ở điễm nào ? Vì sao lại dành Đồng Khánh cho con gái và Khải Định cho con trai ? Đó là ẫn ý Thiên chuá dành cho nhà kiến trúc sư có thiên tài. Cho nên đi xem một di tích phãi dành ít thì giờ tìm hiểu cho cặn kẻ.
Trong sách Thánh kinh, phần Mathieu, có ghi : « Tu es Pierre et sur cette pierre, je bâtirai mon Eglise » (Con là Đá và trên tấm đá nầy Cha sẻ xây Giáo Hội). Đó là lời cuả chúa Jésus nói với tông đồ Pierre, vị Thánh Cha tiên khởi cuả Giáo Hội Thiên chúa giáo trên hoàn cầu. Lời truyền giảng nầy đủ nói lên quyền hành cuả một vị Giáo Hoàng bất biến, vì được chính đức chuá Jésus xác nhận từ hơn 2000 năm nay. Trong những thế kỷ ban đầu ngôi vị đức Giáo hoàng chỉ là một vị Giám mục thành Rome mà thôi. Nhưng dần dà các Giám mục thành Rome cùng xác nhận quyền hành tại thành Rome chính là quyền hành Giáo hội Thiên chuá giáo. Các Ngài quyết liệt chống lại các hoàng đế La Mã và các vua chuá trong vùng, cũng như cả các giáo hội địa phương. Mải đến năm 1870, dưới triều đại Pie IX ban hành chiếu chỉ 10 Điều răn là Đức Tin bất biến và tuyệt đối cuả người Thiên chúa giáo.
Nhưng trong lịch sữ Giáo hội, quyền hành cuả vị Giáo hoàng luôn luôn là vấn đề thời sự. Ngay đến hôm nay một số đông giáo dân và tu sĩ vẫn đặt vấn đề gần như Luther đã từng khai phóng cách đây 5 thế kỷ. Do đó, nhiều nhà quan sát đã đoán trước rằng sau thời đại Jean Paul ll, tinh thần Thiên Chuá sẻ có một cái nhìn khác hơn. Câu hỏi đặt ra là Tình yêu thương Thiên Chúa chỉ có sau nội thành Vatican hay còn dành cho các đoàn con chiên tràn đầy đức tin Thiên Chúa?
Hôm nay thứ năm 7/4, bầu trời Rome không đẹp lắm. Những làn gió bấc thổi mạnh. Tôi cảm thấy quá mệt và có ý định đi ra khỏi Rome tìm một hotel ngủ trọ dưởng sức, nhưng lại cứ nói với lòng mình: « Đừng sợ, cứ đi đến cùng ». Tôi chuyễn ý không rời Rome nữa.
Đọc lại trong trí lịch sữ Giáo Hội kể từ đức giáo hoàng Paul VI cho đến triều đại Jean Paul ll, tôi thấy hình như Giáo hội đồng ý cho tín hữu mạnh Đức Tin được sống thành những cộng đoàn dưới sự lãnh đạo tuyệt đối cuả Đức Thánh Cha. Và chính cộng đoàn Opus Dei tại Rome mà mọi người đều biết sự thần phục tuyệt đối đó là một tỷ dụ. Trong thời đại đức Thánh Cha Jean Paul ll đã có rất nhiều tu sĩ trong cộng đoàn nầy đảm đương chức vụ quan trọng và nhất là việc phong chức Thánh cho vị khai sáng Opus Dei từ năm 1928 : Josemaria Escrivá de Balaguer. Do đó, theo tôi, cộng đoàn Opus Dei sẻ là đòn bẩy mạnh nhứt trong cuộc bầu cử đức tân giáo hoàng sắp tới và đó cũng là câu trả lời thiết thực nhất cho hướng đi cuả Giáo Hội trong nay mai về cái nhìn Tình yêu về Thiên Chuá.
Tối thứ tư vừa qua ông bộ trưởng nội vụ Giuseppe Pisanu đã trấn an mọi người là chính phủ rất quan tâm đến vấn đề an ninh. Tuy nhiên ông Tổng giám đốc an ninh thành Rome đã xin những đoàn thể đến Rome hảy hủy bỏ cuộc hành hương, vì thành Rome không còn đất chứa.
Tại quảng trường Saint Pierre đã chật đông khoảng hai ba trăm người từ sáng sớm. Rất nhiều thanh niên thanh nữ người Ba lan. Trên mọi nẻo đường, các khu đại học, các sân trống cuả thành phố Rome ước chừng trên 4 triệu người như dự đoán. Toàn nước Ý dường như nín thở trước vấn đề an ninh chưa từng thấy. Trước quảng đường Saint Pierre, cảnh sát cấm chỉ người đi vào. Thỉnh thoảng họ cho vài người mang quốc tịch Ba lan ưu tiên đi vào để chuẩn bị viếng linh cửu đức Thánh Cha với lý do họ đã mất hơn 30 giờ từ Ba lan đến Rome Thời gian chờ đợi cũng phải mất ít nhứt từ 5 đến 15 giờ từ bờ sông Tibre đến quảng trường nầy.Chiều qua thứ năm ông thị trưởng thành Rome cho biết đã có 40.000 người giử gìn trật tự an ninh. Bên cạnh còn thêm nhiều ngàn người tự nguyện giúp sức. Trên bầu trời có 2 trực thăng cảnh sát có tay súng thượng thặng và những chiếc máy bay Awacs cuả tổ chức Otan trợ lực. Tất cả trường học và văn phòng công chức hành chánh đều đóng cữa
Hôm nay, chắc có lẻ đức Thánh Cha đã ban thưởng cho tôi, một ông già từ Bruxelles đến viếng Ngài. Tự nhiên một nhà báo tôi chưa hề quen biết, đến cầm tay tôi ra dấu cùng đi theo ông ta hướng về cữa Sainte-Anne, tại đây có một vị chức sắc toà thánh đợi sẳn. Không một tiếng nói, vị chức sắc dẫn chúng tôi đến một rào cản, và ở đó người ta đang đợi những đoàn thể ưu tiên, trong đó có thành phần tặt nguyền và những bà tóc đã nhuốm mầu bạc đồng phục mà tôi đoán có lẻ họ là một tổ chức quan trọng trong giáo hội. Vị chức sắc ra dấu cho người gác cữa, một cánh cữa hé mở và một người hướng dẫn bước ra, chẳng một lời nói năng, đưa tất cả mọi người theo một cánh cữa bằng thiếc đi về phía sau Vatican, mà thường nơi đây cấm chỉ người dân ở ngoà bén mảng.
Tôi gặp những người lính vệ binh Thụy sĩ đang thay nhau phiên gác. Đó là những người « ngoài thước tấc », to cao, má phụng. Tôi không biết hình dáng ông Hộ Pháp mà người ta thường nói ở Việt nam ra sao, nhưng khi vừa thấy mấy ông Thụy sĩ nầy thì cứ cho đó là mấy ông Hộ Pháp !. Trong bộ quần áo màu mè sặc sở phản ãnh lên những tấm đá thanh trên tường bên cạnh đanh có vài vị Giám mục và Hồng Y đi bước chậm.
Đến lượt một cánh cữa thứ hai mở ra, tôi giật mình và tim tôi đập mạnh, vì tự nhiên mình đang đứng giưả thánh đường Saint Pierre !. Tôi bị khối người hành hương đẩy ép tràn về phía bên phải đoàn người, một phần sân có đầy sẳn ghế bằng sắt đang đợi những nhân vật quan trọng trong ngày sắp tới. Chính nơi đây cả gia đình tổng thống Bush và những thượng khách trên thế giới sẻ được đón chào bởi những nhà chức sắc trong Giáo Hội. Dảy ghế nầy cũng là nơi các Giám mục và Hồng y an toạ trong lúc hành lễ. Các vị quan khách quan trọng được mời ngồi đối diện ở phía ngoài sân đối diện với quan tài đức Thánh Cha và Thánh đường.
Trên mãng sân trống, một đám đông người vác một tấm nệm đõ ra sức chạy mau, nhưng trong chổ tôi đứng thì cảm thấy như thời gian ngưng nghỉ. Đoàn người lê chân hướng về nơi quan tài đức Thánh Cha được ngăn cách đường đi kính viếng một thanh gổ nhỏ đặt song song. Không một ai được ở tại chổ, mà phải di dộng đến phía đàng trước, vừa đi vừa làm dấu thánh giá. Tôi để ý trên bộ mặt những người đi qua đây không tỏ vẽ mệt mỏi nhưng sắc diện có hơi đổi mầu. Có lẻ vì xúc động chăng ? Nhìn vào gương mặt đức Thánh Cha, tôi tưởng thời gian đi qua từng giây từng phút là những họa sĩ đang tô điễm mầu sắc da mặt Ngài qua sự phản chiếu cuả chiếc áo đõ sậm và chiếc mũ mầu vàng. Một ý nghỉ lâng lâng khi ẫn khi hiện trong óc tôi và tôi muốn cất tiếng hát : « hạt bụi nào, Chúa hoá thân tôi, để rồi mai đây tôi trở về cát bụi.... ».
Buổi tiễn đưa lịch sử
Hôm nay thứ sáu 8/4, theo chương trình dự định thì lễ an táng đức Thánh Cha đặt dưới sự chủ toạ cuả Đức Hồng Y Ratzinger, trưởng nhiệm Hồng y đoàn. Thời biểu như sau :
* 7giờ 30 cử hành lễ liệm xác tại thánh đường Saint Pierre, trước sự hiện diện cuả vài vị chức sắc thân tín cuả đức Thánh Cha. Thi thể Ngài được đặt vào quan tài gổ cèdre (loại gỗ thông ở vùng Lyban) và người ta đắp lên mặt Ngài một khăn lụa trắng. Đức Hồng y Nhiếp chánh Eduardo Martinez Somalo rảy nước thánh và Hồng y Marini đặt vào quan tài một gói đựng tất cả những huy chương bằng bạc và bằng vàng đã đúc trong suốt thời đại Jean Paul ll, đức Hồng y Marini đọc lướt sơ qua tiểu sữ cuả đức Thánh Cha.
* 9 giờ 45 lễ nghinh quan tài ra trước thánh đường Saint Pierre dưới sự tham dự cuả tất cả Hồng Y, giửa tiếng cầu kinh Requiem.
* 10 giờ, lễ tiễn đưa bắt đầu dưới quyền chủ tế cuả đức Hồng Y Ratzinger, dự trù 3 giờ và sau đó linh cữu đức Thánh Cha được mang vào đền thờ Sixtine để bỏ vào 2 quách bằng chì và ngoài cùng bằng gỗ chêne (gỗ cây dẽ còn gọi là cây táu). Sau hết quan tài được chuyễn đến hầm mộ dưới thánh đường Saint Pierre, nơi mà trước đây đã đặt thi hài thánh Gioan XXlll, bên cạnh Jean Paul Đệ nhứt.
Trong cuộc tiễn đưa đức Giiáo hoàng Jean Paul ll về nơi an nghỉ cuối cùng, người ta dự trù khoảng 4 đến 5 triệu người trong đó có khoảng 2000 thượng khách Vua chuá, Tổng thống, Thủ tướng, đại diện các tôn giáo và tùy tùng. Mối phái đoàn không quá 5 người. Những người hộ vệ an ninh cá nhân các nhân vật, dù bất cứ ai, không được liệt vào trong danh sách các thượng khách và không được trang bị khí giới. Đặc biệt chỉ tổng thống Bush được quyền có một vệ sĩ liệt trong danh sách đi dự đám tiễn đưa. Và cũng chỉ có phái đoàn Tông thống Bush là phái đoàn nhân vật tối cao đến dự lễ tẩm liệm đức Giáo Hoàng trong điện Sixtine tối thứ tư 4/4.
Vài cảm nhận riêng tư
Không ai bắt tôi không có quyền đi và quyền viết về một Đức Thánh Cha cuả Giáo Hội. Cũng không ai cấm tôi không được nói ra những cảm nghỉ riêng tư. Nhưng tôi tự nhủ rằng mình nên đi và thấy gì nói nấy, biết gì ghi nấy, và phải đủ sức sáng suốt trả lời những câu hỏi sẻ đặt ra. Điều không ai chối cải được là Đức Thánh Cha Jean Paul ll quả là một Đức Thánh Cha vĩ đại. Ngài mang theo những bí mật mà Thiên chuá đã dành riêng cho Ngài đủ năng trí hoàn toàn độc lập đứng ra ngoài hai lảnh vực chính trị và kinh tế. Ngài là một trong những vị Giáo Hoàng đã tận hiến mình cho Thiên Chuá và Mẹ Maria đến hơi thở cuối cùng.
Nay chúng ta đòi hỏi một vị Giáo hoàng như Ngài hay Sao ? Ngoài tầm tay cuả chúng ta và chỉ có Thiên chuá sắp đặt. Hoặc chúng ta đòi hỏi một vị Giáo hoàng trẻ tuổi như Ngài hay sao ? Điều đó đứng trước mặt Thiên Chuá không đặt ra. Hoặc chúng ta đòi hỏi phong chức Thánh cho Ngài gấp ? Theo luật cuả Giáo hội thì chưa thể thực hiện được, vì võn vẹn chỉ mới tuần nay. Tuy nhiên, theo tôi, điều chắc chắn sẻ xẩy ra trong cuộc họp kín tại đền thờ Sixtine trong vài ngày sắp đến, là các đức Hồng Y sẻ suy gẩm rất nhiều về hướng đi cộng đồng OPUS DEI trong Giáo Hội tương lai.
Tôi muốn lặp lại câu nói dân gian người Ý để kết luận bài ký sự nầy : « Vào điện Sixtine khi trở ra mới biết mình còn là Hồng Y ». Thật vậy, trước khi vào điện Sixtine để bầu Giáo Hoàng, vị lãnh đạo Giáo Hội, ai lại không nghỉ về mình ? ai lại không cho mình sẻ được Chuá chon ? Sự thật sẻ ra sao đó là ý Chúa.
(trong những ngày cuối cùng cuả Đức Giáo Hoàng Jean Paul ll)
Lý do viết bài ký sự nầy
Tôi lớn lên khi đất nước tôi hô hào toàn dân đoàn kết. Trên toàn quốc, mấy chữ « Đoàn kết là sống » (l’union fait la force) là một trong những khẩu hiệu tranh chổ ngồi trên các bức tường. Tại thành phố Huế, hôm đó giửa rừng người, tôi theo đoàn quân nhạc dẫn đầu buổi tiễn đưa linh cữu vua Thành Thái đến nơi an nghỉ cuối cùng. Xưa nay tôi không biết những đám ma cuả các vị vua chúa tiền nhiệm đã diễn ra thế nào, nhưng hình dung lại đoàn người đi dư lễ đám tang vua Thành Thái tại Huế năm xưa, tôi nghỉ rằng đất nước tôi đã bỏ lở một dịp đoàn kết nhân dân cho lịch sữ. Vì thuở đó không bao giờ người Pháp dành cho một cuộc tập trung nhân dân như vậy. Từ bên kia cầu Đập Đá đến truớc trường Quốc học, nhân dân khóc cho vua Thành Thái hay cho Đất nước Việt nam ? Câu hỏi đó lúc bấy giờ hoàn toàn nằm ngoài trí óc tôi.
Tiếp đến là thời kỳ mà cựu hoàng Bảo Đại từ Hồng kông hồi hương về chấp chánh. Thực ra chỉ là chuyện chọc cười, bởi lẻ người Việt lúc bấy giờ chẳng khác nào như những tổ chức chính trị tại hãi ngoại hôm nay, chỉ vì miếng đĩnh chung, muốn trục lợi cho riêng mình, cho đảng phái mình, đã chia rẻ trầm trọng, chẳng làm nên được trò trống gì. Tất cả đều trong tay bọn tân thực dân Pháp. Theo quyển Le Dragon do chính cựu hoàng Bảo Đại viết, thì trước tình thế đó, chính Ngài đã viết thư mời ông Ngô đình Diệm đứng ra lãnh đạo một tân chính phủ với toàn quyền hành động. Chứ không phải như lời tuyên truyền cuả các phe phái chống đối trong nước Việt nam nói Mỹ đưa Ngô đình Diệm về chấp chánh. Ông Ngô đình Diệm đã có công ít ra là người khai mào một luồng gió mới trong lối nhìn cuả lớp trẻ về văn minh và dân chủ. Nhưng mộng ông chưa thành thì đã bị đám quân phiệt được Mỹ mua chuộc nổi lên giết chết. Tư bản Mỹ đã thành công trục lợi sau khi đưa một số người không am tường chính trị lên cầm quyển đất nước Việt nam. Trong một dịp may hiếm có, tôi rời khỏi quê hương cho đến nay chưa có dịp về thăm xứ sở.
Nhớ lại lần trong lớp tôi bắt chước câu châm ngôn kia để dạy học trò. Thay vì « l’union fait la force » (đoàn kết là sống), tôi lại nói : «l’oignon fait la farce» (củ hành làm farce). Học trò cả lớp đều cười to, đến nổi sư huynh giám thị (frère préfet) phải chạy lên dòm ngó!. Tôi không rỏ có cậu học trò nào trong lớp hiểu ý tôi muốn nói gì hay không ?. Bởi lẻ câu nói khôi hài đó có ẫn ý sâu xa hơn. Vì chữ « farce » có hai nghỉa. Nghỉa thứ nhứt là trò hề. Nghỉa thứ hai là nhân thịt cá nhồi trong bụng lươn hay gà vịt trước khi đem chiên. Củ hành làm sao mà trở thành trò hề đưọc. Củ hành cũng đâu phải là thịt hay cua tôm mà làm thành nhân. Củ hành chỉ làm cho chúng ta chảy nước mắt. Khi không có củ hành mà con người chảy nước mắt, tức là người đó có vấn đề « đau khỗ » mà không biết nói với ai. Thực ra ngụ ý tôi muốn khuyên học trò rằng nếu mai sau, các bạn không biết chính trị, thì nên tìm môi trường khác mà sinh sống. Nếu các bạn là sĩ quan, là tướng lãnh, thì nên nuôi dưỡng tình nghĩa « huynh đệ chi binh ». Nếu bạn là nhà kinh doanh thì nên tìm cách cho nền kinh tế nước nhà phát triễn. Nếu bạn là kẻ tu hành thì nên giúp tín hữu con chiên giử nền luân lý và đạo hạnh. Nếu bạn là nhà giáo dục thì nên khai phóng nghệ thuật và văn chương...Nếu các bạn không biết chính trị mà làm chính trị lèo lái con thuyền quốc gia, thì chỉ là đem đại họa đến cho đất nước và dân tộc, trong đó có gia đình cha mẹ và ông bà cuả các bạn.
Hôm nay tại hãi ngoại, qua tin tức báo chí và đài truyền hình suốt hai tháng nay, tôi muốn thực hiện một cuộc hành hương âm thầm tại toà thánh Vatican, với mục đích cầu nguyện cho vị Cha cả cuả Giáo hội, một nhà lãnh đạo chưa từng có trong lịch sữ Giáo hội Thiên Chúa giáo về cả Đạo lẫn Đời. Thật vậy, về Đạo, đức Thánh cha Jean Paul ll đã can đảm dấn thân mở rộng tầm nhìn cuả Giáo Hội qua chủ trương cộng đồng Vatican ll, Ngài hiệp thông với tất cả các tôn giáo trên hoàn cầu, trong đó đáng kể nhứt là với đạo Juif cuả người Do thái. Ngài cương quyết lên án nghiêm khắc những việc tẩy rữa thai nhi, đồng tình luyến ái, nhân tạo bào thai. Về Đời, Ngài là nhà chính trị chống lại mọi quyền lực độc tài dưới bất cứ ý thức hệ nào, kể cả tư bản hay cộng sản, qua phong trào đòi hỏi Quyền làm Người. Trước mắt Ngài, khi người cộng sản vô thần cố tận diệt các tôn giáo hữu thần, thì chính Ngài là nhà cách mạng có một không hai đã làm cho thế giới cộng sản tan rã không tốn máu xương. Nhân loại đã thoát khỏi một ý thức hệ kềm kẹp con người trên mọi phương diện. Đây cũng là câu trả lời thiết thực nhứt cho Staline khi ông đưa ra câu hỏi dèm pha Giáo hoàng Pie Xll rằng : « Thử hỏi sau lưng đức Giáo Hoàng có bao nhiêu sư đoàn ? » Một điều đáng tiếc là Ngài ra đi khi đất nước quê hương tôi chưa thu được toàn vẹn quyền Tự do làm Người và nhân dân còn quá khỗ. !
Tôi biết cái chết sẻ không từ một ai, đó là lẻ công bằng mà Thiên Chuá đã dành cho mọi người, kể cả đức Thánh Cha, vị đại diện Chúa trên trần gian. Nhưng trong tiếng nói dân gian người Việt lại có câu đáng suy gẩm « súc vật chết để da, người ta chết để tiếng ». Chữ « Tiếng » hàm ý là muôn đời. Đó là những dòng ký sự sau đây.
Trước khi ra đi
Tôi đã chuẩn bị cuộc hành hương đơn độc nầy cả 2 tuần nay, nhưng chưa nói cho ai biết. Bởi lẻ hơn 40 năm nay chưa lần nào tôi xa nhà không có vợ con bên cạnh, mà đây là lần đầu tiên, tôi muốn đi một mình, chắc sẻ có nhiều chống đối cuả mọi người trong gia đình. Thật vậy, khi tôi vừa nói ý định cuả tôi ra cho mọi người biết, thì vợ con tôi chống đối ngay. Tất cả đều vịn cớ đại khái rằng tuổi tôi đã quá cao, đi một mình lở đêm hôm xẩy ra điều không may thì hối hận không kịp. Hơn nửa tôi ở Úc 6 tháng vừa mới về, thì cũng nên đi khám sức khoẻ tổng quát một lần rồi sau đó đi đâu cũng được. Nhưng ý định đi Rome cuả tôi lần nầy không phải là đi xem di tích lịch sữ như hai lần trước, mà đi với mục đích khá đặc biệt. Tôi thực hiện cuộc hành hương cầu nguyện cho vị lãnh đạo Giáo hội Thiên chúa giáo và cho quê hương Việt nam. Lần đầu mà cũng là lần chót, tôi xin vợ con tôi đừng nên ngăn cản. Đến đây, mọi người hoan hỷ.
Phần khác, tôi nghỉ rằng nếu có vợ con tháp tùng lần nầy thì « bận bịu » lắm, nhất là tìm cho ra chỗ trọ đêm hôm. Nếu chỉ một mình tôi, là đàn ông già cả, lở không thuê được ô-ten thì « cứ đâu bạ đấy », miễn mình đừng có tác phong hạ cấp, phóng uế bậy bạ, thiếu văn minh. Vấn đề ăn uống cũng không phải là dễ, vì một mình tôi thì ăn sao cũng được, có gì ăn nấy. Hoặc giả có bà con cô bác nào thấy thân già tội nghiệp cho vài miếng bánh lót bụng cũng cảm ơn. Chứ có đàn bà cùng bên cạnh thì rất khó xữ !. Các bà Việt ta thì thà chịu đói chứ không dám ngữa tay đón miếng bánh mì cuả người chưa quen biết. Hơn nữa, ăn uống bên Ý đắt đỏ lắm. Nếu đem giá cả bên nầy so sánh với giá cả bên Pháp, bên Bỉ nhứt là bên Mỹ hay bên Úc, người Việt nam mình phần đông « xót bụng », không dám ăn. Nếu có ăn thì may ra là tìm mấy dĩa « pát chiên bơ » (pâte au beurre), vì món « pát chiên bơ» là món ăn thường nhật cuả người Ý. Xưa nay nhờ vậy nên nước Ý có tiếng sản xuất « pát » đứng đầu thế giới và « pát » cuả Ý lại ngon, sạch, và rẻ hơn mì Tàu nhiều lắm.
Nói đến chuyện ăn cuả người Ý thì tôi nghỉ đến người Tàu ở mấy quán China Town. Tôi thấy hai sắc dân nầy tiêu thụ mạnh « pát hay mì » hơn người Việt mình. Họ mở mắt ra là « pát hay mì », mổi người vài dĩa hay vài tô là chuyện thường. Người Ý mổi lần vào nhà hàng thì dĩa « pát chiên bơ » là dĩa nhập khẩu (plat d’entrée), nói theo người Việt mình là dĩa « lót miệng ». Sau đó họ mới đi vào dĩa chính thức (plat principal) hoặc cá, hoặc thịt. Cuối cùng họ kết thúc bằng một ly cà-phê expresso thật đậm. Người Tàu cũng đâu thua. Sáng sớm vừa đánh thức, chẳng cần rửa mặt súc miệng, ra quán gọi một tô mì to bự. Tiếp đến là dĩa gìo cha quảy kèm theo dĩa cơm chiên. Hai sắc dân nầy chì khác nhau ở chổ « làm ồn ào » tại nơi cộng cộng. Khác với người Ý, người Tàu hể ngồi vào bàn ăn là tranh nhau nói. Giọng nói cuả họ tưởng chừng như đánh lộn nhau. Mạnh ai nấy được, cứ « la lối um xùm », chẳng cần nghỉ đến sự phiền hà cuả thực khách bên cạnh.
Vốn có cái tính ưa làm nghịch đời, nên tôi chọn ngày thứ sáu 1/ 4 làm ngày khởi hành. Vì bên xứ Bỉ, nơi tôi đang tạm trú, thường gọi ngày 1 tháng 4 là ngày « poisson avril ». Ngụ ý là ngày chẳng làm được việc gì đến nơi đến chốn, cái ngày « nghịch đời », cái ngày nói « có » tức là « không » và nói « không » tức là « có ». Tóm tắt ngày mồng 1 tháng 4 là cái ngày « chọc quê » nhau. Khi ra nhà Gare du Midi để mua vé tàu tốc hành, một loại xe lửa Âu châu với vận tốc gần 300 km/giờ, thì biết là xe tốc hành Âu châu chỉ đi đến Nice hay Menton, hai thành phố cực Nam nước Pháp mà thôi. Muốn đi Rome thì phải mua vé xe lửa cuả Ý. Và trên khoảng đường từ Menton hay Nice đến Rome còn thay xe hai lần, thì giờ trên duới 17 tiếng đồng hồ. Thấy quá bất tiện, tôi liền đổi ý đi mua vé máy bay. Tại đây lại còn thêm chuyện rắc rối khác! Người bán vé máy bay Charleroi-Rome cho biết không còn chổ trống. Nếu tôi muốn đi thì sáng mai thứ bảy cứ lên túc trực tại sân bay, hể có chổ thì tôi là người ưu tiên. Thế là đành theo lời đề nghị cô bán vé và sáng hôm sau, thứ bảy 2/4, tôi đã có mặt tại sân bay Charleroi lúc 7 giờ sáng.
Đúng vậy, tại sân bay Charleroi hôm nay chật ních du khách đến Ý. Tôi nghe nói cả 2 ngày nay ban giám đốc hảng Ryrnair cho tăng viện thêm hai chuyến Charleroi - Rome. Giá vé cũng tăng vì chuyền đi Charleroi-Rome thì đầy nhốc, mà chuyến trở về Rome-Charleroi thì trống chỗ. Vỏn vẻn hành trang chẳng có gì ngoài chiếc ba-lô gồm 2 bộ áo quần, một túi ngủ, 3 chai nước và vài dụng cụ máy móc thu thanh chụp hình, nên tôi cảm thấy cũng dễ chịu. Nhưng cũng vì cái « dễ chịu nầy » mà trước khi ra đi tôi còn bị vợ con cằn nhằn rằng tôi làm biếng, không sợ dơ bẩn người ta cười hay sao ! Tôi thì nghỉ rằng mình là đàn ông chứ đâu phải là đàn bà đi đâu cũng lềnh kềnh làng càng nào phấn nào son, nên cứ lấy cái « văn nghệ tính » mà cười cho vui cữa vui nhà. Hơn nửa, thời buổi bây giờ chán gì tiệm giặt ủi « hoả tốc ». Ví bằng không có tiệm giặt ủi « hoả tốc» nào, thì tôi cứ gửi số áo quần dơ vào mấy cái poubelle dọc đường là tiện nhứt. Đở nặng vai.
Ngồi trong phòng đợi tại sân bay đã khá lâu. Cà phê, bánh ngọt đã hết mấy tua, tên tôi vẫn chưa được gọi. Nhìn sang bên cạnh bàn tôi, có cặp tình nhân trẻ đang tranh luận về dỉ vảng cuả đức giáo hoàng Jean Paul ll, và tôi đoán chừng cô thì cương quyết đi Rome và cậu thì tỏ ra thất vọng, không mấy hài lòng. Bụng bảo dạ trên đời nầy chẳng có ai làm vừa lòng mọi người !.Một người đàn ông to bự, râu ria xồm xoàm, vai choàng khăn đỏ nghiệp đoàn đãng xã hội (labor), đến trao tôi một tờ truyền đơn trong đó kể lại lai lịch đức Thánh Cha Jean Paul ll tuần tự Ngài sinh năm 1920 tại Wadovice, đi tu chui năm 1942 tại Cracovie, chịu chức linh mục năm 1946, thụ phong Giám mục năm 1958, Hồng y năm 1967, và đến năm 16/10/1978 được bầu làm Giáo Hoàng. Suốt 26 năm trên cương vị Giáo Hoàng, những việc đáng chú ý đã xẩy ra vào năm 1981 bị Ali Agca ám sát tại quảng trường Saint-Pierre, năm 1993 du hành sang Phi châu và tại đây Ngài chống đối việc ngừa thai, năm 1994 Ngài cho thiết lập quan hệ ngoại giao với Israel, năm 1998 Ngài sang thăm Cuba và năm 2000 thân chinh thăm thánh địa Jérusalem và tại đây Ngài công khai xin lỗi những bất công mà Giáo Hội Thiên chuá giáo đã đối xữ với người Do thái theo đạo Juif. Tờ truyền đơn lại không quên ghi rỏ đức thánh cha Jean Paul ll là vị giáo hoàng bảo thủ, vị giáo hoàng chính trị, vi giáo hoàng nhân quyền, vị giáo hoàng hoà giải, vị giáo hoàng luân lý, vị giáo hoàng du hành và vị giáo hoàng thần tượng cuả tuổi trẻ. Tôi tự nghỉ thì ra đức Giáo Hoàng Jean Paul ll đã chiếm được lòng nhiều tổ chức chính trị và nghiệp đoàn tại quốc gia nấy.
Đồng hồ đã chỉ 2 giờ chiều, bụng thì chưa đói nhưng sao cứ hồi hộp bồn chồn và dường như có một sự thúc đẩy vô hình nào đó bắt tôi phải vào quán uống bia. Một chai, hai chai, rồi...ba chai, tôi cứ tiếp tục uống trong suốt thời gian đợi cô bán vé gọi tên. Cơn gió lạnh cuả miền núi than đá vùng Charleroi tràn tới báo hiệu trời sắp tối và tôi cũng sữa soạn định ra về. Tôi nhủ thầm đúng là ngày « poisson avril », người dân Bỉ nói không ngoa ! Cho hay mình cũng không quá tin tưởng vào khoa học mà coi thường kinh nghiệm sống cuả dân gian. Bổng dưng, từ chiếc micro có tiếng gọi tên tôi được lên danh sách đi Rome trong chuyến bay 5 giờ chiều nay. Để trấn an nổi mừng, tôi tự thưởng tôi thêm một chai bia nửa trước khi rời quán nước.
Ngồi trên máy bay mà ruột gan cứ bồn chồn hồi hộp vì chưa biết tối nay tôi sẻ làm gì ? Tôi không nghỉ đến việc tối nay tôi ăn ngủ ở đâu, mà chỉ nghỉ đến những lời cầu nguyện. Lẻ dĩ nhiên tôi sẻ cầu cho Đức Thánh Cha Jeau Paul ll chóng bình phục để đợi ngày đất nước tôi được tự do, và Ngài sẻ đến đây ôm hôn mãnh đất nầy như Ngài đã từng làm trên các đất nước khác. Thoảng trong óc tôi hiện ra ý nghỉ mông lung, một ý nghỉ hoàn toàn trái ngược với tâm niệm tôi, rằng tôi quá ích kỷ, quá bất công đối với Ngài ! Bởi lẻ, vì sao tôi chỉ nghỉ đến cái hạnh phúc cuả riêng tôi, cuả dân tộc tôi, mà tôi quên cái hạnh phúc cuả Ngài ?. Tôi cầu xin Thiên chúa cho Ngài sống lâu, dù Ngài phải đau khỗ phần xác thịt, để đòi hỏi đóng góp cho quê hương tôi con Người được quyền làm Người, nhân dân có quyền ăn nói, có quyền lập hội hè, có quyền tự do tín ngưởng. Trong khi đó, đáng lý ra tôi phải cầu xin cho Ngài sớm về nước Chúa, để cho Ngài lên chốn Thiên Đàng, để cho Ngài sung sướng sống đời đời bên cạnh Chuá. Tôi quả thật là nhỏ nhen ty tiện ! Quả thật là ích kỷ ! Trong khi tôi chưa tìm được một lối giải thích thoả đáng, thì có tiếng báo tin máy bay sắp hạ cánh xuống phi trường Ciampino (Rome). Đồng hồ chỉ đúng 7 giờ 30 tối. Tôi cám ơn Thiên Chuá cho tôi đến Rome hôm nay.
Tại thành Roma
Thì ra thế giới hôm nay hẹn nhau tập trung tại Rome, kinh đô nước Ý, để cầu nguyện cho giáo hoàng Jean Paul ll, chứ không riêng gì tôi. Thị xã Rome, nguyên xưa kia là tập họp một số làng mạc cuả hai sắc tộc Latin và Sabin trên những ngọn đồi có dòng sông Tibre chảy qua.Trước công nguyên thứ Vll đến thứ Vl, sắc tộc người Etrusques ở phiá bắc, theo dòng sông Tibre đi về hướng nam mang theo kỷ thuật xây cất và ngành hội hoạ tân kỳ, đến đây tạo thành một khu phố (cité) tráng lệ làm kinh đô cho cả đế quốc La mã. Qua thế kỷ thứ lll người Barbares (tên gọi chung cho nhiều sắc tộc không thuộc văn minh Hi lạp) đến xâm chiếm thì dân toàn khu phố rút vào trong hậu cứ phòng thủ Aurélien. Qua năm 330, vua Constantin lại cho xây thành Constantinople làm kinh đô thứ hai. Bị xem như ngoại dân thuộc quyền vua Constantin, người Barbares nổi lên quấy phá thành Rome suốt cả thế kỷ thứ V. Nhưng chẳng bao lâu người thiên chuá giáo đã phục hồi lại toàn thị xã và đặt vị Giáo hoàng quản trị Giáo Hội thiên chúa giáo tại đây.
Tôi nghe nói những chuyến xe lửa đỗ về thành Rome đã được chính quyền Ý cho tăng lên gấp bội. Hơn 40 chuyến một ngày. Nghiệp đoàn hoả xa Ý cũng đình hoản cuộc đình công như đã dự định từ lâu. Tất cả nhân dân và chính quyền Ý, hơn bao giờ hết, đã đoàn kết để phục vụ du khách suốt thời gian đặc biệt nầy.
Muốn vào nội thành Vatican, du khách phải di chuyễn bằng xe taxi hay tàu điện hầm (métro).Mà trạm xe điện hầm Ottaviano San Pietro là trạm gần nhứt để đến quảng trường Saint Pierre. Tối nay, những chuyến métro chạy về hướng Vatican cứ tiếp tục đỗ người ra như nước lũ. Tôi hình dung cảnh tượng nầy chẳng khác nào một đàn kiến đang chen chúc theo đưôi nhau chuyển tải những thức ăn trước cơn mưa sắp tới. Hoặc cả một đàn ong tung ra từ ổ, sau hòn đà hay cành cây cuả một đứa trẻ con tinh nghịch nào đó chọi nhằm.Thì ra càng văn minh chừng nào con người càng tiến tới lối sinh hoạt như những đàn kiến, đàn ong. Tôi nghỉ rằng cảnh tượng nầy chẳng khác nào lối sinh hoạt cuả con người thời đại chúng ta hôm nay Văn minh đang giúp con người tập dần cuộc sống cuả mình trong những hang động như loài ong kiến.. Sáng tập trung chui vào siêu thị. Tối thành đoàn tản mác về nhà. Chỉ vì con người đang thi đua với máy móc nên chưa đủ thì giờ để nhận ra mình chẳng khác gì ong kiến.
Hôm nay văn minh còn đưa con người đi xa hơn nữa. Con người càng ngày càng đông và vì thế, trái đất càng ngày càng thu hẹp lại. Để cho loài người có đủ đất sinh sống, văn minh vẽ ra những con đường tưởng tượng trên không trung để tránh tại nạn cho máy bay chuyển tải con người đi sinh hoạt. Hiện tại vấn đề xăng nhớt và thời giờ là quan trong nên văn minh lại chế ra những máy bay chuyên chở khổng lồ 380 dự trù chuyễn tải trên 500 du khách. Tôi tự hỏi, với diện tích thành Rome vỏn vẹn 44 hectares, vài ngày sắp tới liệu có đủ sức chứa hết số người đến đây cầu nguyện cho đức Thánh Cha ?
Rảo mắt qua thành phố Rome, ôi thôi, người là người. Hàng triệu người!. Già có, trẻ có mà con nít cũng có mang theo! Họ rải rác dọc đường, tại các thánh đường Gioan Latarano, Đức Bà, thánh Phaolồ ngoại thành, hoặc tụ tập tại khu đại học Rome, tại sân vận động, hí trường Colosséo, circus Maximus, quảng trường Polono hoặc tại lề giửa quảng trường Risorgimento, những nơi nào có màn ảnh vĩ đại vừa mới mọc lên như hoa nở đầu xuân. Thực ra tôi chỉ hình dung khổ người to nhỏ mà phân biệt người lớn và trẻ con, vì mọi người đều cúi sấp mặt cầu nguyện và lần hạt. Tôi cũng chẳng muốn làm gì hơn, chỉ mong mau đến quảng trường Saint Pierre trong nội thành Vatican. Vừa đi vừa nguyện thầm cầu xin Thiên Chúa và Mẹ Maria cho đức thánh cha Jean Paul ll được bình phục để dẫn dắt Giáo hội, để góp tay đem lại tự do thanh bình cho quê hương Việt nam. Lời cầu nguyện cuả tôi nhịp theo bước chân người như thác đỗ về quảng trường Saint Pierre.
Đúng 8 giờ tối, tôi thấy sức tôi hôm nay đến đây không thể nào đi xa hơn được nửa và nên tìm ngay một góc thành hay duới một cột đèn để nghì qua đêm. Tôi không thấy đói bụng, nhưng cảm thấy khát nước. Dù cho trong ba-lô còn 2 chai nước, nhưng tôi không dám uống, vì nghỉ lại vấn đề đi toilet cũng ngặt nghiệt!. Đêm nay đúng là đêm đông Úc châu, hàn thử biểu trên dưới 10 độ bách phân, nhưng bầu trời thành Rome bị đốt cháy bởi khí CO² cuả cả triệu người nên tôi vẫn thấy nực nội. Hướng mắt về thánh đường Saint Pierre, thu mình trong túi ngủ tôi cầu nguyện. Thỉnh thoảng tôi nghỉ lại cũng buồn cười vì trong những lời cầu nguyện cuả tôi chỉ võn vẹn xin Thiên Chuá cho Đức Thánh Cha sớm bình phục và cho quê hương Việt nam tôi được Tự do Thái bình. Thì ra hành trình từ Bruxelles đến Rome trí óc tôi nghèo nàn lắm thế ư ? Con người lắm lúc tự phụ rằng mình biết nhiều, nhưng soát kỷ lại chẳng ra gì khi đứng trước thiên địa trùng trùng. Con người sẻ thay nhau hủy hoại nhưng vạn vật còn tiếp nối và Thiên Chúa còn hiện hữu.
Trên phần đất Vatican
Việc còn lại trong trí tôi là cố gắng tìm cách định hướng vùng đắt Toà thánh để bà con những ai chưa có dịp đến Vatican biết sơ qua địa thế. Điều nên nhớ là thành phố Rome khác với toà thánh Vatican. Thành phố Rome thuộc nước Ý, còn Vatican thuộc Giáo hội Thiên chuá giáo. Nhưng toà thánh Vatican nằm trong vùng đất thuộc thành phố Rome mà viên thị trưởng là người Ý (cứ hình dung như Hoàng thành các triều vua tại Huế nằm trong khu vực thị xã Huế, trong thành nội là cuả Vua, ngoài thành nội là cuả thị xã Huế, hoặc dinh Độc lập trước 1975 nằm trong thành phố Saigon). Vì lý do đó nên qua nhiều thế kỷ toà thánh Vatican cứ bị chính quyền Ý khiêu khích muốn chiếm lại. Mải đến thời kỳ Mussolini nhượng bộ hẳn cho Toà thánh dưới triều đại Giáo hoàng Pie X. Kể từ ngày 7/6/1929 Vatican mới được cộng đồng thế giới chính thức công nhận là một tiểu quốc. Vì thánh địa Vatican đã được xem như một tiểu quốc, nên nơi đây có một tổ chức hành chánh thuộc quyền đức Giáo hoàng. Đến triều đại đức giáo hoàng Jean Paul ll, kể từ ngày 28/6/1988, hội đồng chấp chánh GiáoHội được cải tổ dưới hình thức một chính phủ, trong đó gồm có một vị thủ tướng (tức là vị niên trưởng Hồng Y Đoàn), 9 bộ trưởng, 3 toà án, 12 cố vấn cho đức Giáo Hoàng, 5 bộ phận hành chánh quản trị tài nguyên giáo hội và một bộ phận kinh tế chuyên lo về tài chánh cho giáo hội. Dưới giáo triều Jean Paul ll, chức thủ tướng của Hồng y Ratzinger thì gọi là vị niên trưởng Hồng Y Đoàn, chức bộ trưởng ngoại giao cuả Hồng y Leonardo Sandri thì gọi là phát ngôn viên Đức thánh Cha, bộ nội vụ cuả Hồng y Somado thì gọi là Hồng y nhiếp chánh, bộ lễ cuả Hồng y Marchissano thì gọi là vị Kinh sữ đền thờ... v.v. Luật lệ thì gần giống như luật lệ nước Ý. Án tử hình đã bải bỏ từ năm 1960. Trong thành Vatican cũng có siêu thị, bưu điện, đài phát thanh và truyền hình, trạm xăng, nhà thuốc tây và tờ nhật báo Osservator Romano. Đặc biệt là tại Vatican không có trường học thường trực, nhưng có những trạm y-tế dân sự túc trực ngày đêm « miễn phí ». Lương hướng những nhân viên tại Vatican tùy theo chức vụ xê xích trong khoảng 500 đến 1500 đô la cho một tháng và được miễn thuế. Không có nghiệp đoàn chính thức, nhưng có một tổ chức trọng tài giửa chủ và nhân viên.
Võn vẹn 44 hectares nhưng 1/3 diện tích đã dành cho công viên, còn lại là các đền đài dinh thự chu cấp cho khoảng 700 dân sự, trong đó đại diện ngoại giao đoàn đã chiếm hết phần nửa, 50 vị Hồng y, trên 50 chức sắc phục vụ cho toà thánh và 110 vệ binh người Thụy sĩ lo an ninh cho đức Giáo hoàng và thánh địa.
Trong số dinh thự tại nội thành Vatican, nếu từ quảng trường thánh Saint Paul nhìn vào thánh đường Saint-Pierre), thì bên tay trái là toà án, tiếp đến là một dinh thự nguyên là nhà triều kiến đức Thánh Cha (salle des audiences pontificales), đến thời Giáo Hoàng Jean Paul ll được sữa chữa làm nhà trọ cho các đức Hồng y hay Giám mục mổi lần đến Vatican làm việc. Trong dịp họp bầu đức tân giáo hoàng lần nầy, tất cả các vị Hồng Y đi bầu đều trú ngụ tại đây. Đi sâu vào phía sau lưng thánh đường St-Pierre, ngay góc thành phía trái có một sân bay trực thăng. Kế cận về bên phải thánh đường Basilique St-Pierre là toà thánh đường Sixtine. Đây sẻ là nơi 118 vị Hồng Y họp bầu đức tân Thánh Cha sắp tới. Cứ nhìn về phiá bên phải nhà thờ Sixtine, mọi người đều thấy tuần tự một trung tâm tủ sách Toà thánh (bibliothèque), một trung tâm mỹ thuật hội hoạ (Pinacothèque), viện bảo tàng Pio-Clementino và viện bảo tàng Chiaramonti. Nối liền với các trung tâm nầy, là nơi cư trú cuả đức Thánh Cha, nằm sát gần bên phải quảng trường St-Pierre.
Tại quảng trường Thánh Phêrô
Tôi đến đây khi bầu trời Vatican vang tiếng hát « Ave Maria...Ave Maria » dưới hàng ngàn ngọn đèn soi sáng mọi hóc hẻm lối đi. Xung quanh tôi lớp lớp thanh niên thanh nữ hướng mắt về hai cánh cữa sổ còn ánh đèn, đang lần chuổi hạt và cầu nguyện cho Đức thánh Cha trong giờ hấp hối. Thỉnh thoảng họ cất tiếng hát và vỗ tay để nhớ lại những gì mà Ngài đã dành riêng cho họ trong những lần họp mặt toàn cầu. Chắc cũng có vài thanh niên thanh nữ nghỉ rằng những tiếng hát và những tràng pháo tay cuả họ sẻ tạo thêm nguồn sinh lực cuả Ngài. Trước thánh đường Saint Pierre, đức hồng y Leonardi Sandri, phát ngôn viên cuả Đức Thánh Cha, loan tin sẻ có buổi cầu nguyện nữa đêm và buổi cầu nguyện vào sáng mai lúc 10 giờ 30 do đức Hồng y Angelo Sonado, quốc vụ khanh, làm chủ tế.
Trong khi một số người quanh tôi đang soạn sửa ra về hay di chuyển đến một nơi khác, tôi thấy cánh cữa thứ ba trên lầu đức Thánh Cha mở đèn. Không bao lâu, trên mọi màn ảnh khổng lồ dựng khắp quảng trường, đức giám mục Sandri hiện hình, tiến dần đến micro và tuyên bố : « Đúng 21 giờ 37 phút, vị Cha cả cuả chúng ta đã trở về nhà Chuá ». Toàn cả quảng trường đều im lặng, một sự im lặng lạ lùng chẳng khác nào như đứa trẻ con ăn cơm mắc nghẹn, không thở được !. Không gian Vatican chỉ nghe tiếng róc rách cuả mấy vòi nước vô tình gây nên tiếng động. Vài phút trôi qua, chẳng cần ai bảo ai, mọi người qùy gối: «khóc» !. Trong số đó, không phải chỉ là nam nữ tu sĩ mà có cả những thanh niên, quần jean, áo thụng, tóc dài, tai đeo hoa cườm, vai đeo ba-lô, đến từ khắp nẻo phương trời cũng đang khóc như trẻ nhỏ. Giửa những cặp tình nhân ôm chặt nhau, thoa vai thoa đầu, tỏ dấu an ủi nhau trước một sự sắp đặt cuả Thiên Chúa, đức hồng y tổng bộ ngoại giao Angelo Sodano cất cao bài « De Profundis », kinh cầu cho người vãng khuất. Những đoàn thanh niên nam nữ ngồi bệt xuống đất, tay cầm đèn nến và đèn pin, đôi mắt đỏ nhoè vì không cầm giử được giọt nước mắt.
Bổng tự nhiên, một bầu không khí vui nhộn trở lại làm đổi hẳn quảng trường qua tiếng hát « alléluia ». Những tràng vỗ tay kéo dài xé cả không gian cho đến lúc tất cả 3 cánh cữa nơi cư trú cuả đức Giáo Hoàng sáng rực và cánh cữa bằng thiếc cuả thánh đường Saint Pierre hé mở. Mấy người bên cạnh cho tôi biết đó là một dấu hiệu tang tóc cuả Giáo hội. Tiếp theo là hồi chuông báo tữ dội ra từ gác Saint André về phía bên trái thánh đường Saint Pierre kéo theo những tiếng chuông khắp cả thành Rome.
Tôi đang trầm lặng giửa không gian như ngừng chạy, bổng vang lên tiếng khóc cuả một bà lão bên cạnh.và tiếp theo câu nói cuả một vị nữ tu : « Thôi con xin bà đừng khóc nửa. Bây giờ đức Thánh Cha đã hết đau khỗ thể xác. Ngài đã về nhà Chuá ». Tôi bảo thầm « xin nguyện được như vậy ». Nhưng có điều tôi lấy làm lạ là dọng nói mạnh dạn vị nữ tu không đi đôi với lòng mình, vì chính hai khoé mắt bà vẫn ướt. Có thể nước mắt là hậu quả những tâm trạng đau khỗ nhứt hay vui sướng nhứt cuả con người chăng ? Đau khổ cũng chảy nước mắt, mà vui sướng quá cũng chảy nước mắt. Hôm nay chính nước mắt cuả những người hành hương trên quảng trường nầy rất đặc biệt. Nước mắt họ đã tái tạo lại sự đông đặc ngưồn hy vọng khi người ta nghỉ rằng cái chết con người không phải là một sự kiện đơn độc mà chỉ là một chuyến qua đường trở về lòng Mẹ.
Đúng 23 giờ, quảng trường Saint Pierre lấy lại trạng thái trầm buồn như lúc vừa báo tin. Cả một suối người ào ạt tràn vào. Điểm đáng chú ý là trong đó những ký giả và các đài truyền hình tới tấp nối đuôi theo tin đài ANSA Ý loan báo về quốc gia họ tin đức thánh cha Jean Paul ll đã tạ thế khá dè dặt. Đầu góc đường Via della Conciliazione nơi hàng trăm đài truyền thông và truyền hình trang bị antenne hình bầu dục cuả các hảng thông tin trên thế giới, những chiếc xe di động mang theo ký giả đang thực hiện các cuộc phỏng vấn những người qua lại. Có những người tò mò đến đây đã tỏ ra hứng thú khi cầm chiếc micro cuả nhà báo để trả lời. Lối săn tin cuả các ký giả báo chí và đài truyền hình hôm nay làm tôi nhớ lại hiện tượng bối cảnh trong film Fellini chiếu về quang cảnh đại hội phim ãnh tại thành phố Venise, chẳng khác chút nào. Các ký giả và các diễn viên truyền hình đã đóng trại ngoài trời cạnh bên biệt thự truyền hình cuả thành phố Venise để tìm những chuyện « bới lông tìm vết ». mà nghỉ thầm rằng: « đó là chuyện làm ăn trong nghề nghiệp cuả báo chí ». Có như vậy mới ăn tiền. Có như vậy báo chí mới bán chạy. Nhưng lần nầy chắc hẳn nhà báo không thể viết không đúng với sự thật.
Gần 12 giờ đêm, phòng báo chí mầu xanh da trời Vatican ở ngay đầu góc quảng trường Saint Pierre đầy ký già quốc tế đã nhận được bản tin chính thức : « Đức Thánh Cha đã từ trần chiều nay tại phòng riêng cuả Ngài vào lúc 9 giờ 37 phút. Mọi thủ tục đã quy định trong thánh bộ đức giáo hoàng Universi dominici gregis mà đức thánh cha Jean Paul ll đã ban bố ngày 22/2/1996 đã được thi hành triệt để ». Chờ mải đến gần sáng chủ nhật, phát ngôn viên Tòa Thánh Joaquin Navarro Valls, thành viên Opus Dei, phát ngôn viên cuả đức Thánh Cha lại xuất hiện cho báo chí biết thêm nhiều chi tiết. Chẳng hạn tối qua thứ bảy lúc 8 giờ, đức Thánh Cha đã dự thánh lễ Divine Miséricorde ngay tại trong phòng Ngài, có sự hiện diện cuả chức sắc cao cấp người Ba lan. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, ngoài các bác sĩ và y tá, có hội đủ mặt xung quanh Ngài những người gia đình thân thuộc, hai vị thư ký riêng Dziwisz và Mokrzycki, một vị Tổng Giám mục, một vị Hồng y, nhiều nữ tu sĩ, một người bạn thân thuở thiếu thời, ông Tadeusc Styczen, tất cả đều là người cùng quê hương với Ngài. Chỉ vài phút sau giờ tắt thở cuả Ngài,mới có sự hiện diện cuả những nhân vật cao cấp cuả Toà Thánh, như hồng y quốc vụ khanh Angelo Sanado, hồng y Nhiếp chánh Aduardo Martines Somalo (để chứng thực giấy khai tử đức Thánh Cha) và vài vị trong Hồng y đoàn.
Sáng ngày chủ nhật, trên báo chí còn đăng tải thêm nhiều tin tức bán chính thức rằng trước khi trút hơi thở cuối cùng đức Thánh Cha còn nắm chặt tay Tổng Giám mục Sanislaw Dziwisz, thư ký riêng cuả Ngài và nói « Amen ». Có báo thì nói trước khi vĩnh biệt, Ngài đã vễnh mặt hướng ra cữa sổ, nơi Ngài thường hiện ra chúc lành tín hữu tụ tập trên quảng trường Saint Pierre và thì thầm những lời dành riêng cho giới trẻ : « Cha tìm các con và các con đã đến. Cha có lời cám ơn các con ».
Trước khi thánh lễ tại thánh đường Saint Pierre sáng ngày chủ nhật do đức Hồng y Sadano chủ tế, giửa đám đông tín hữu đang tràn ngập con đường Via della Conciliazione, hồng y Camillo Ruini, vị đại diện Đức Thánh Cha cai quản tổng toà thành Rome, mới tuyên bố đức Thánh cha Jean Paul ll thật sự đã từ trần kèm theo giấy khai tử cuả bác sĩ Renato Buzzonetti chứng thực « Đức Thánh Cha từ trần tiếp theo sau sự nhiễm trùng nặng và nhịp tim quá yếu, không thể cứu vãn nổi ».
Sau thánh lễ, mọi người vẫn chưa tản mác, dường như họ muốn ở lại thêm vài giờ để cầu nguyện cho sự vĩnh biệt cuả Đức Thánh Cha. Giửa những rừng cờ đủ mọi quốc gia phất cao trên đầu, tôi thấy có những băng luạ đen đính kèm. Vài biểu ngữ viết hàng chữ to tướng : Santo Subito (hàm nghỉa phong thánh ngay cho Jean Paul ll). Đàng xa có bà lão đang bị xây xẫm và mầy cô cứu thương xách băng ca chạy đến mang về trạm bệnh xá. Đó đây, nhiều người ngồi bệt xuống đất, tay cầm bánh mì xăng wuýt như đang đi dự cuộc cắm trại khổng lồ trên đất thánh. Vài cậu hướng đạo cất tiếng hát bài Ave Maria nhịp theo tiếng đàn guitare cuả mấy thanh niên bên cạnh giửa một khung trời buồn man mác. Cách xa tôi vài thước, một người đàn bà bồng con qúy gối khóc làm cho nhiều người không cầm được nước mắt và khóc theo bà.
Suốt ngày chủ nhật trên đài truyền hình Ý chiếu thánh lễ tại thánh đường Saint Pierre, với sự hiện diện cuả Tổng thống nước Ý, ông Azeglio Ciampi, cùng chính phủ và tất cả các chính trị gia Ý đến viếng đức giáo hoàng Jean Paul ll. Bao quanh bởi hai vệ sĩ người Thụy sĩ, đức Thánh Cha nằm trên bục trải thảm đõ, vẽ mặt thản nhiên, trong y phục mầu đõ sậm, đầu đội nón trắng và tay cầm chiếc gậy tượng trưng uy quyền Giáo hội. Sau thánh lễ chỉ một mình tổng thống Ciampi vào tận phòng Clémentine trong biệt điện đức thánh Cha để viếng thi hài người bạn lần cuối cùng. Theo chỉ thị cuả Toà thánh thì suốt thời gian ngày chủ nhật còn lại cho đến 17 giờ ngày mai thứ hai 4/4 dành riêng cho tất cả những vị chức sắc trong triều đình giáo hoàng, các vị ngoại giao đoàn và khoảng 3000 nhân viên phục vụ tại toà thánh Vatican viếng điếu thi hài đức Thánh Cha. Trong 3 ngày kế tiếp thi hài đức Thánh Cha được đưa ra trước đền thánh Saint Pierre để dành cho mọi người đến kính viếng lần chót Người mà chính đức Hồng Y Sodano trong buổi thánh lễ ngày chủ nhật công khai tuyên xưng « Đại đế Giovanni Paolo Đệ Nhị ».
Tối nay thứ hai 4/4, những đoàn thanh niên thanh nữ gánh gồng những xăng wuýt và nước uống đi phân phát cho mọi người. Cô thanh nữ thấy tôi già nua đến hỏi bằng tiếng Ý. Tôi chẳng hiểu và giơ tay làm dấu ngụ ý rằng tôi đang đói bụng và khát nước. Cô ta trao tôi 2 gói bánh và một lít nước. Tay tôi cầm bánh và nước do cô trao tặng, miệng nói : « Merci, mademoiselle ». Thế là cô ta cũng trao đổi với tôi bằng tiếng Pháp. Cô cho biết cô là người Pháp tháp tùng cộng đồng Taizé ở Lyon qua đây hành hương. Tôi cũng nói thật cho cô ta biết rằng tôi từ Bruxelles đến đây đã 3 ngày và trước đây tôi đã từng tham gia các buổi cầu nguyện tổ chức bỡi cộng đồng Taizé. Tôi cũng đã từng được gặp Frère Roger, bề trên Taizé tại Lyon. Tôi cũng đã có dịp nói chuyện trước hàng ngàn thanh niên thanh nữ, trong đó có người từ Tiệp khắc và Roumanie dưới thởi cộng sản, đến đây cầu nguyện.Tôi đã tham gia các cuộc cầu nguyện Hoà Bình cho Thế giới cùng với hàng ngàn thanh niên Roumanie tại Lyon (Pháp), hàng trăm thanh niên thanh nữ trong Opus Dei tại Barcelone (Espagne) khi đức cha Josemaria Escrivá de Balaguer chưa còn phong thánh, với hàng ngàn thanh niên thanh nữ tại Londres (Anh) và tôi cũng đã làm cho hàng ngàn thanh niên nam nữ trong buổi cầu nguyện Hoà bình Thế giới nhân ngày đầu năm tại Ý, sau khi nhắc chuyện Việt nam, trong những năm bức tường Bá linh chưa sụp đỗ, và cả nhà thờ đã theo tôi cùng khóc.
Đêm nay, trong chiếc túi ngủ, tôi bình tâm và suy nghỉ cũng là chuyện lạ cho tôi. Tôi thì thầm cám ơn Chuá và tự nói với mình rằng giá sử không có bánh và nước cuả cô kia cho, thì tôi cũng đành nhịn đói nhịn khát mà thôi. Sức già như tôi đến đây cảm thấy không còn chịu nổi và có biết tôi còn kéo dài thêm cuộc hành hương nầy nữa hay không ?.
Sáng ngày thứ ba 5/4, tôi nghe xung quanh có người bàn tán về việc ướp xác Đức Thánh Cha. Tôi nhớ lại trong một quyễn sách nói về cách ướp xác thời cỗ đại Ai cập. Thông lệ ướp xác chỉ dành cho phái trưởng giả và các gia đình quý tộc mà thôi. Dân thường không có quyền ướp xác. Trước khi gia đình có người chết muốn ướp xác, họ đến khai với một vị quan đại diện trong vùng và chỉ có vị nấy có quyền cấp giấy cho ướp xác hay không cho ướp xác. Vì vậy có nhiều lúc xẩy ra sự tráo xác giửa người thường dân và hàng qúy tộc trong những đêm tối trời hoặc mua chuộc được người canh xác.
Đại khái thi hài người chết được moi hết ruột gan phủ tạng, ngâm vào một hồ nước trước khi đem treo lên trên những cây gổ có hình thập giá, phơi nắng vài ngày. Đến khi xác người chết đã khô cứng, người ta mang về cuốn vào một loại vải bằng sợi gai lớn rồi đem đi chôn. Việc chôn cất cũng phải hết sức giử gìn kín đáo, không được cho người ngoài biết nơi đặt quan tài thực sự ở đâu. Vì nếu lở dân nghèo biết được thì đêm hôm họ đến moi xác người quá cố để lấy vàng bạc.
Tại Vatican, trước đây việc ướp xác thi hài các đức Thánh cha, người ta vứt bỏ tất cả các bộ phận trong cơ thể, đoạn bỏ thi thể vào một bình đất nung chín, đặt trong một nhà thờ nhỏ ở Trevi, Saints-Anastase-et-Vincent. Đến đời giáo hoàng Pie X lối ướp xác nầy được bải bỏ và cho dùng kỷ thuật mới. Hôm nay việc ướp xác người ta không cần phải lấy bỏ các bộ phận trong cơ thể người chết, mà chỉ tiêm vào người quá cố chất hormol sau khi rút hết chất nước và máu trong thi thể.
Theo báo chí đăng tải thì tại Rome, ông Massimo Signoracci, người chuyên môn ướp xác cho 3 vị giáo hoàng vừa qua đã nói : « Tôi sẳn sàng đợi lệnh Toà Thánh để thực thi việc ướp xác và tôi sẻ gắng làm như Ông nội tôi và cha tôi đã làm ». Ông cho biết, chính ông đã lo việc ướp xác cuả giáo hoàng Jean XXlll năm 1963, giáo hoàng Paul Vl năm 1968 và giáo hoàng Jean Paul đệ nhứt vị tiền nhiệm đức giáo hoàng Jean Paul ll cũng đã qua đời năm 1968. Kỷ thuật ướp xác cuả ông Massimo khá tân kỳ và được chứng minh khi dời mộ giáo hoàng Jean XXlll lên thánh đường Saint Pierre. Sau 38 năm, xác Ngài vẫn nguyên vẹn.
Nhưng vào giờ phút chót, đức cha Joaquin Natvarro-Valls, phát ngôn viên toà thánh loan báo rằng việc ướp xác cuả đức Thánh Cha, toà thánh không nhờ gia đình ông Massimi Signoracci đảm trách, mà nhờ vào viện y khoa Tor Vergata tại Rome dưới quyền điều khiễn cuả giáo sư Giovanni Arcudi.
Một việc khác cũng đáng lưu tâm. Đó là thư di chúc do chính đức thánh cha Jean Paul viết kể từ ngày 6/3/1979, sau gần một năm lên ngôi Giáo Hoàng. Chẳng có gì đặc biệt ngoài việc nhắc đến tên đức Tổng Giám mục Stanislaw Dziwisz, thư ký riêng cuả Ngài và vị thượng phụ (rabbin) thành Rome, đã tiếp rước Ngài tại nhà thờ Do thái vào năm 1986. Việc chôn cất thi thể cuả Ngài thì toàn quyền Hồng Y Đoàn quyết định. Vì sức khoẻ và đến tuổi 80, Ngài dự định thoái vị năm 2000 và việc nầy chỉ phó thác trong ý Chúa. Về cuả cải vật chất thì Ngài không có để lại gì cả. Sau cùng Ngài chỉ xin Giáo Hội đốt tờ di chúc nầy. Nhiều người còn bàn đến đoạn văn Ngài viết bằng tiếng Balan, trong đó có việc nâng cấp một Đức Giám mục Trung hoa lên hàng Hồng Y vào năm 2003, nhưng chưa thuận lợi đối với chính quyền Trung cộng lúc bấy giờ đã tạo lên một Giáo hội Nhà nước chống đối Giáo hội Vatican. Việc nầy chỉ có thể xẩy ra trong triều đại đức Giáo Hoàng kế vị, nếu giáo hoàng Jean Paul ll còn để lại dấu vết trong hồ sơ Giáo Hội.
Ngồi nhìn vào thánh điện Saint Pierre, sáng nay 12 cột trụ trước đền dội vào óc tôi nhiều suy nghỉ. Phải chăng nhà kiến trúc đã gợi lại cho mọi người ẫn dấu 12 vị tông đồ cuả chuá Jésus ? Chiều cao cuả tất cả các cột đều bằng nhau nói lên tinh thần bình đẳng trước dung nhan Chuá ?. Tôi nghỉ lại phần lớn trong những đền đài dinh thự, những kiến trúc đồ sộ, người kiến trúc sư thường để lại cho người đời sau vài triết lý nhân sinh cuả họ mà du khách ít người để ý. Chẳng hạn ở Huế mấy ai biết hai ngôi trường Đồng Khánh và Khải Định khác nhau ở điễm nào ? Vì sao lại dành Đồng Khánh cho con gái và Khải Định cho con trai ? Đó là ẫn ý Thiên chuá dành cho nhà kiến trúc sư có thiên tài. Cho nên đi xem một di tích phãi dành ít thì giờ tìm hiểu cho cặn kẻ.
Trong sách Thánh kinh, phần Mathieu, có ghi : « Tu es Pierre et sur cette pierre, je bâtirai mon Eglise » (Con là Đá và trên tấm đá nầy Cha sẻ xây Giáo Hội). Đó là lời cuả chúa Jésus nói với tông đồ Pierre, vị Thánh Cha tiên khởi cuả Giáo Hội Thiên chúa giáo trên hoàn cầu. Lời truyền giảng nầy đủ nói lên quyền hành cuả một vị Giáo Hoàng bất biến, vì được chính đức chuá Jésus xác nhận từ hơn 2000 năm nay. Trong những thế kỷ ban đầu ngôi vị đức Giáo hoàng chỉ là một vị Giám mục thành Rome mà thôi. Nhưng dần dà các Giám mục thành Rome cùng xác nhận quyền hành tại thành Rome chính là quyền hành Giáo hội Thiên chuá giáo. Các Ngài quyết liệt chống lại các hoàng đế La Mã và các vua chuá trong vùng, cũng như cả các giáo hội địa phương. Mải đến năm 1870, dưới triều đại Pie IX ban hành chiếu chỉ 10 Điều răn là Đức Tin bất biến và tuyệt đối cuả người Thiên chúa giáo.
Nhưng trong lịch sữ Giáo hội, quyền hành cuả vị Giáo hoàng luôn luôn là vấn đề thời sự. Ngay đến hôm nay một số đông giáo dân và tu sĩ vẫn đặt vấn đề gần như Luther đã từng khai phóng cách đây 5 thế kỷ. Do đó, nhiều nhà quan sát đã đoán trước rằng sau thời đại Jean Paul ll, tinh thần Thiên Chuá sẻ có một cái nhìn khác hơn. Câu hỏi đặt ra là Tình yêu thương Thiên Chúa chỉ có sau nội thành Vatican hay còn dành cho các đoàn con chiên tràn đầy đức tin Thiên Chúa?
Hôm nay thứ năm 7/4, bầu trời Rome không đẹp lắm. Những làn gió bấc thổi mạnh. Tôi cảm thấy quá mệt và có ý định đi ra khỏi Rome tìm một hotel ngủ trọ dưởng sức, nhưng lại cứ nói với lòng mình: « Đừng sợ, cứ đi đến cùng ». Tôi chuyễn ý không rời Rome nữa.
Đọc lại trong trí lịch sữ Giáo Hội kể từ đức giáo hoàng Paul VI cho đến triều đại Jean Paul ll, tôi thấy hình như Giáo hội đồng ý cho tín hữu mạnh Đức Tin được sống thành những cộng đoàn dưới sự lãnh đạo tuyệt đối cuả Đức Thánh Cha. Và chính cộng đoàn Opus Dei tại Rome mà mọi người đều biết sự thần phục tuyệt đối đó là một tỷ dụ. Trong thời đại đức Thánh Cha Jean Paul ll đã có rất nhiều tu sĩ trong cộng đoàn nầy đảm đương chức vụ quan trọng và nhất là việc phong chức Thánh cho vị khai sáng Opus Dei từ năm 1928 : Josemaria Escrivá de Balaguer. Do đó, theo tôi, cộng đoàn Opus Dei sẻ là đòn bẩy mạnh nhứt trong cuộc bầu cử đức tân giáo hoàng sắp tới và đó cũng là câu trả lời thiết thực nhất cho hướng đi cuả Giáo Hội trong nay mai về cái nhìn Tình yêu về Thiên Chuá.
Tối thứ tư vừa qua ông bộ trưởng nội vụ Giuseppe Pisanu đã trấn an mọi người là chính phủ rất quan tâm đến vấn đề an ninh. Tuy nhiên ông Tổng giám đốc an ninh thành Rome đã xin những đoàn thể đến Rome hảy hủy bỏ cuộc hành hương, vì thành Rome không còn đất chứa.
Tại quảng trường Saint Pierre đã chật đông khoảng hai ba trăm người từ sáng sớm. Rất nhiều thanh niên thanh nữ người Ba lan. Trên mọi nẻo đường, các khu đại học, các sân trống cuả thành phố Rome ước chừng trên 4 triệu người như dự đoán. Toàn nước Ý dường như nín thở trước vấn đề an ninh chưa từng thấy. Trước quảng đường Saint Pierre, cảnh sát cấm chỉ người đi vào. Thỉnh thoảng họ cho vài người mang quốc tịch Ba lan ưu tiên đi vào để chuẩn bị viếng linh cửu đức Thánh Cha với lý do họ đã mất hơn 30 giờ từ Ba lan đến Rome Thời gian chờ đợi cũng phải mất ít nhứt từ 5 đến 15 giờ từ bờ sông Tibre đến quảng trường nầy.Chiều qua thứ năm ông thị trưởng thành Rome cho biết đã có 40.000 người giử gìn trật tự an ninh. Bên cạnh còn thêm nhiều ngàn người tự nguyện giúp sức. Trên bầu trời có 2 trực thăng cảnh sát có tay súng thượng thặng và những chiếc máy bay Awacs cuả tổ chức Otan trợ lực. Tất cả trường học và văn phòng công chức hành chánh đều đóng cữa
Hôm nay, chắc có lẻ đức Thánh Cha đã ban thưởng cho tôi, một ông già từ Bruxelles đến viếng Ngài. Tự nhiên một nhà báo tôi chưa hề quen biết, đến cầm tay tôi ra dấu cùng đi theo ông ta hướng về cữa Sainte-Anne, tại đây có một vị chức sắc toà thánh đợi sẳn. Không một tiếng nói, vị chức sắc dẫn chúng tôi đến một rào cản, và ở đó người ta đang đợi những đoàn thể ưu tiên, trong đó có thành phần tặt nguyền và những bà tóc đã nhuốm mầu bạc đồng phục mà tôi đoán có lẻ họ là một tổ chức quan trọng trong giáo hội. Vị chức sắc ra dấu cho người gác cữa, một cánh cữa hé mở và một người hướng dẫn bước ra, chẳng một lời nói năng, đưa tất cả mọi người theo một cánh cữa bằng thiếc đi về phía sau Vatican, mà thường nơi đây cấm chỉ người dân ở ngoà bén mảng.
Tôi gặp những người lính vệ binh Thụy sĩ đang thay nhau phiên gác. Đó là những người « ngoài thước tấc », to cao, má phụng. Tôi không biết hình dáng ông Hộ Pháp mà người ta thường nói ở Việt nam ra sao, nhưng khi vừa thấy mấy ông Thụy sĩ nầy thì cứ cho đó là mấy ông Hộ Pháp !. Trong bộ quần áo màu mè sặc sở phản ãnh lên những tấm đá thanh trên tường bên cạnh đanh có vài vị Giám mục và Hồng Y đi bước chậm.
Đến lượt một cánh cữa thứ hai mở ra, tôi giật mình và tim tôi đập mạnh, vì tự nhiên mình đang đứng giưả thánh đường Saint Pierre !. Tôi bị khối người hành hương đẩy ép tràn về phía bên phải đoàn người, một phần sân có đầy sẳn ghế bằng sắt đang đợi những nhân vật quan trọng trong ngày sắp tới. Chính nơi đây cả gia đình tổng thống Bush và những thượng khách trên thế giới sẻ được đón chào bởi những nhà chức sắc trong Giáo Hội. Dảy ghế nầy cũng là nơi các Giám mục và Hồng y an toạ trong lúc hành lễ. Các vị quan khách quan trọng được mời ngồi đối diện ở phía ngoài sân đối diện với quan tài đức Thánh Cha và Thánh đường.
Trên mãng sân trống, một đám đông người vác một tấm nệm đõ ra sức chạy mau, nhưng trong chổ tôi đứng thì cảm thấy như thời gian ngưng nghỉ. Đoàn người lê chân hướng về nơi quan tài đức Thánh Cha được ngăn cách đường đi kính viếng một thanh gổ nhỏ đặt song song. Không một ai được ở tại chổ, mà phải di dộng đến phía đàng trước, vừa đi vừa làm dấu thánh giá. Tôi để ý trên bộ mặt những người đi qua đây không tỏ vẽ mệt mỏi nhưng sắc diện có hơi đổi mầu. Có lẻ vì xúc động chăng ? Nhìn vào gương mặt đức Thánh Cha, tôi tưởng thời gian đi qua từng giây từng phút là những họa sĩ đang tô điễm mầu sắc da mặt Ngài qua sự phản chiếu cuả chiếc áo đõ sậm và chiếc mũ mầu vàng. Một ý nghỉ lâng lâng khi ẫn khi hiện trong óc tôi và tôi muốn cất tiếng hát : « hạt bụi nào, Chúa hoá thân tôi, để rồi mai đây tôi trở về cát bụi.... ».
Buổi tiễn đưa lịch sử
Hôm nay thứ sáu 8/4, theo chương trình dự định thì lễ an táng đức Thánh Cha đặt dưới sự chủ toạ cuả Đức Hồng Y Ratzinger, trưởng nhiệm Hồng y đoàn. Thời biểu như sau :
* 7giờ 30 cử hành lễ liệm xác tại thánh đường Saint Pierre, trước sự hiện diện cuả vài vị chức sắc thân tín cuả đức Thánh Cha. Thi thể Ngài được đặt vào quan tài gổ cèdre (loại gỗ thông ở vùng Lyban) và người ta đắp lên mặt Ngài một khăn lụa trắng. Đức Hồng y Nhiếp chánh Eduardo Martinez Somalo rảy nước thánh và Hồng y Marini đặt vào quan tài một gói đựng tất cả những huy chương bằng bạc và bằng vàng đã đúc trong suốt thời đại Jean Paul ll, đức Hồng y Marini đọc lướt sơ qua tiểu sữ cuả đức Thánh Cha.
* 9 giờ 45 lễ nghinh quan tài ra trước thánh đường Saint Pierre dưới sự tham dự cuả tất cả Hồng Y, giửa tiếng cầu kinh Requiem.
* 10 giờ, lễ tiễn đưa bắt đầu dưới quyền chủ tế cuả đức Hồng Y Ratzinger, dự trù 3 giờ và sau đó linh cữu đức Thánh Cha được mang vào đền thờ Sixtine để bỏ vào 2 quách bằng chì và ngoài cùng bằng gỗ chêne (gỗ cây dẽ còn gọi là cây táu). Sau hết quan tài được chuyễn đến hầm mộ dưới thánh đường Saint Pierre, nơi mà trước đây đã đặt thi hài thánh Gioan XXlll, bên cạnh Jean Paul Đệ nhứt.
Trong cuộc tiễn đưa đức Giiáo hoàng Jean Paul ll về nơi an nghỉ cuối cùng, người ta dự trù khoảng 4 đến 5 triệu người trong đó có khoảng 2000 thượng khách Vua chuá, Tổng thống, Thủ tướng, đại diện các tôn giáo và tùy tùng. Mối phái đoàn không quá 5 người. Những người hộ vệ an ninh cá nhân các nhân vật, dù bất cứ ai, không được liệt vào trong danh sách các thượng khách và không được trang bị khí giới. Đặc biệt chỉ tổng thống Bush được quyền có một vệ sĩ liệt trong danh sách đi dự đám tiễn đưa. Và cũng chỉ có phái đoàn Tông thống Bush là phái đoàn nhân vật tối cao đến dự lễ tẩm liệm đức Giáo Hoàng trong điện Sixtine tối thứ tư 4/4.
Vài cảm nhận riêng tư
Không ai bắt tôi không có quyền đi và quyền viết về một Đức Thánh Cha cuả Giáo Hội. Cũng không ai cấm tôi không được nói ra những cảm nghỉ riêng tư. Nhưng tôi tự nhủ rằng mình nên đi và thấy gì nói nấy, biết gì ghi nấy, và phải đủ sức sáng suốt trả lời những câu hỏi sẻ đặt ra. Điều không ai chối cải được là Đức Thánh Cha Jean Paul ll quả là một Đức Thánh Cha vĩ đại. Ngài mang theo những bí mật mà Thiên chuá đã dành riêng cho Ngài đủ năng trí hoàn toàn độc lập đứng ra ngoài hai lảnh vực chính trị và kinh tế. Ngài là một trong những vị Giáo Hoàng đã tận hiến mình cho Thiên Chuá và Mẹ Maria đến hơi thở cuối cùng.
Nay chúng ta đòi hỏi một vị Giáo hoàng như Ngài hay Sao ? Ngoài tầm tay cuả chúng ta và chỉ có Thiên chuá sắp đặt. Hoặc chúng ta đòi hỏi một vị Giáo hoàng trẻ tuổi như Ngài hay sao ? Điều đó đứng trước mặt Thiên Chuá không đặt ra. Hoặc chúng ta đòi hỏi phong chức Thánh cho Ngài gấp ? Theo luật cuả Giáo hội thì chưa thể thực hiện được, vì võn vẹn chỉ mới tuần nay. Tuy nhiên, theo tôi, điều chắc chắn sẻ xẩy ra trong cuộc họp kín tại đền thờ Sixtine trong vài ngày sắp đến, là các đức Hồng Y sẻ suy gẩm rất nhiều về hướng đi cộng đồng OPUS DEI trong Giáo Hội tương lai.
Tôi muốn lặp lại câu nói dân gian người Ý để kết luận bài ký sự nầy : « Vào điện Sixtine khi trở ra mới biết mình còn là Hồng Y ». Thật vậy, trước khi vào điện Sixtine để bầu Giáo Hoàng, vị lãnh đạo Giáo Hội, ai lại không nghỉ về mình ? ai lại không cho mình sẻ được Chuá chon ? Sự thật sẻ ra sao đó là ý Chúa.