![]() |
| Đức Thánh Cha và tổng thống Đức Horst Koehler. |
Ông Horst Koehler là một tín hữu Tin Lành Luther, năm nay 62 tuổi. Ông sinh trong một gia đình có 8 người con tại Ba Lan và đã trở về Đức vào năm 1953.
Tại dinh tổng thống, hai vị đã hội kiến riêng trong vòng 30 phút, Đức Thánh Cha đã thân mật bắt tay và hỏi chuyện từng nhân viên tại phủ tổng thống. Điều này gây nhiều xúc động trong các nhân viên phủ tổng thống Đức. Sau khi hỏi thăm từng nhân viên trong vòng 30 phút, lúc 11:30, Đức Thánh Cha đã giã từ dinh tổng thống Đức để về lại Köln.
Lúc 12 giờ trưa, Đức Thánh Cha đã viếng thăm Hội Đường Do Thái tại thành phố Köln. Đây là lần thứ hai một vị Giáo Hoàng Rôma bước chân vào một hội đường Do Thái. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã là vị Giáo Hoàng đầu tiên viếng thăm hội đường Do Thái tại Rôma vào năm 1986.
Cộng đoàn Do Thái tại Köln đã là cộng đoàn Do Thái cổ kính nhất tại vùng Trung Bắc Âu. Sử sách nhắc đến sự hiện diện của cộng đoàn này từ năm 321. Theo thống kê năm 1933, tại Köln có khoảng 20,000 người Do Thái. Tuy nhiên, trong thời Quốc Xã cộng đoàn Do Thái này hoàn toàn biến mất. Trừ số người nhanh chân tẩu thoát ra nước ngoài, 11,000 người chậm chân đã bị bắt đưa vào các trại tập trung và đa số đã bị giết. Hội Đường Do Thái tại thành phố Köln đã bị phá hủy. Năm 1945, một cộng đoàn Do Thái mới được thành lập với sự giúp đỡ của các tín hữu Kitô. Ngày nay, cộng đoàn Do Thái tại Köln có 4,000 người trong đó 80% là người đến từ Liên Sô sau khi cộng sản cho phép người Do Thái di tản ra nước ngoài vào năm 1989. Con số người Do Thái di tản sang Đức đã chậm lại sau khi chế độ cộng sản bị giải thể tại Nga.
![]() |
| Rabbi Netanel Teidelbaum, thượng tế Do Thái Giáo |
Sau khi thượng tế Netanel Teidelbaum đọc kinh Kaddish bằng ngôn ngữ Aramaic (tiếng mà Đức Giêsu nói) để cầu cho những người quá cố, Đức Thánh Cha và các vị Hồng Y cùng đi đã được mời tham dự buổi gặp gỡ dưới hình thức một buổi Phụng Vụ Lời Chúa.
Trong buổi Phụng Vụ Lời Chúa, bài trích sách Sáng Thế và Thánh Vịnh 22 đã được đọc lên trước sự hiện diện của đại diện các tín hữu Do Thái, các tín hữu Kitô và đại diện chính quyền Đức.
Trong lời chào mừng Đức Thánh Cha, ông Abraham Lehrer, chủ tịch hội đường Do Thái này đã kể lại lịch sử cộng đoàn Do Thái tại Köln và quan hệ giữa người Do Thái và người Công Giáo tại Köln với những câu chuyện tương trợ lẫn nhau rất cảm động. Ông cũng nhắc đến việc Do Thái thiết lập quan hệ ngoại giao với Tòa Thánh vào năm 1993. Tuy nhiên, ông khôn khéo không đề cập đến những khó khăn mà chính quyền Do Thái thường xuyên gây ra cho Giáo Hội Công Giáo tại Thánh Địa và những điều khoản trong Hiệp Định Căn Bản mà Do Thái đến nay vẫn không chịu thi hành.
Ông nói "Tôi rất sung sướng khi thấy vừa mới lên ngôi, Đức Giáo Hoàng đã đến một đền thờ Do Thái Giáo”. Ông nhận định rằng trong ngày hôm nay, Đại Sứ của Do Thái tại Đức cũng có mặt trong số những người đón tiến Đức Giáo Hoàng tại đây. Điều đó cho thấy mối bang giao giữa Tòa Thánh và Do Thái đã được cải thiện.
Cuối cùng, ông đề nghị Tòa Thánh mở rộng văn khố Tòa Thánh để các học giả nghiên cứu về thời kỳ thế chiến thứ hai (trong khi thực ra văn khố Tòa Thánh đã mở rộng cửa chào đón các vị và trong thời gian gần nửa năm chỉ có không đến 5 người vào xem). Ông Abraham Lehrer cũng nói một câu gây thắc mắc cho nhiều người không biết thực sự ông muốn ám chỉ điều gì: "Các tín hữu Kitô hãy tiếp tục là những tín hữu Kitô tốt và để cho người Do Thái trở thành tín hữu Do Thái tốt".
Tiếp lời ông Abraham Lehrer, thượng tế Netanel Teidelbaum ghi nhận rằng "Cuộc viếng thăm của Đức Thánh Cha tại hội đường Do Thái thành Köln là một bước tiến gần hơn đến việc kiến thiết một đền thờ Giêrusalem thứ ba về mặt tinh thần". Ông nhận định rằng cuộc viếng thăm của Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI là một bước đáng kể "chống lại trào lưu bài Do Thái nơi các tín hữu Kitô trong quá khứ; và chứng tỏ cho thấy cái nhìn của Giáo Hội Công Giáo trong tương quan với thế giới".
Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã mở đầu bài đáp từ của ngài bằng lời chào Shalom, là lời chúc an bình bằng tiếng Do Thái. Đức Thánh Cha nói:
"Bình an cho anh chị em. Trong cuộc viếng thăm đầu tiên của tôi tại Đức sau khi được bầu làm người kế vị thánh Phêrô Tông Đồ, ước muốn sâu xa của tôi là được gặp cộng đoàn Do Thái tại Köln và đại diện Do Thái Giáo Đức. Với cuộc viếng thăm này, tôi muốn liên kết với biến cố ngày 17/11/1980 khi vị tiền nhiệm đáng kính của tôi là Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong cuộc viếng thăm đầu tiên tại Đức đã gặp tại thành phố Maine ủy ban trung ương Do Thái Giáo Đức và Hội Đồng các Rabbi. Ở đây tôi cũng muốn khẳng định rằng tôi muốn tiếp tục hành trình cải tiến các mối quan hệ và tình thân hữu với dân tộc Do Thái, một cuộc hành trình mà Đức Gioan Phaolô II đã thực hiện những bước tiến quyết định."
Tiếp tục bài đáp từ, Đức Thánh Cha đã nhắc lại lịch sử cổ kính của cộng đoàn Do Thái Giáo tại Köln có từ thời La Mã, các quan hệ phức tạp và nhiều khi đau thương giữa cộng đoàn Do Thái và cộng đoàn Kitô tại đây, nhất là trong thế kỷ 20 là thời kỳ đen tối nhất của lịch sử nước Đức và Châu Âu. Trong thế kỷ này "đã phát sinh một ý thức hệ điên rồ, kỳ thị chủng tộc, có nguồn gốc tân ngoại giáo là nguyên nhân gây ra toan tính được chế độ Quốc Xã hoạch định và thi hành có hệ thống nhằm tiêu diệt Do Thái Giáo tại Châu Âu. Từ đó đã gây ra Shoah - cuộc diệt chủng Do Thái. Các nạn nhân của tội ác chưa từng có này, một tội ác không thể tưởng tượng nổi lên đến 7000 người tại thành phố Köln này mà người ta biết đích danh nhưng trong thực tế chắc chắn là đông đảo hơn nhiều. Hồi đó người ta không còn nhìn nhận sự thánh thiện của Thiên Chúa nữa và vì thế họ chà đạp. cả sự thánh thiêng của mạng sống con người."
Đức Thánh Cha tái khẳng định giáo huấn của Công Đồng Chung Vatican II trong tuyên ngôn Nostra Aetate, ban hành cách đây 40 năm lên án mọi hành vi oán ghét, bách hại và mọi hình thức bài người Do Thái trong mọi thời đại và do bất kỳ ai.
"Giáo Hội Công Giáo cũng ý thức nhiệm vụ trong việc giảng dạy giáo lý cũng như trong mọi khía cạnh của đời sống Giáo Hội là phải thông truyền giáo huấn này của Công Đồng cho thế hệ trẻ. Nghĩa vụ này càng quan trọng trước sự kiện ngày nay đang tái sinh các dấu hiệu bài Do Thái và những hình thức thù nghịch đối với người ngoại quốc."
Đức Thánh Cha cũng đã nhắc đến những tiến bộ đáng kể trong 40 năm qua trong quan hệ giữa người Do Thái và các tín hữu Công Giáo trong nhiều lãnh vực. Tuy nhiên, Đức Thánh Cha cũng khẳng định rằng "còn rất nhiều điều phải làm. Chúng ta phải biết nhau nhiều hơn và rõ ràng hơn. Vì thế tôi khuyến khích một cuộc đối thoại chân thành và tin cậy lẫn nhau giữa người Do Thái và Kitô. Chỉ như thế mới có thể đạt đến một sự giải thích đồng thuận về những vấn đề lịch sử mà đến nay vẫn còn tranh biện, nhất là đạt được những tiến bộ trong việc thẩm định về phương diện thần học giữa Do Thái và Kitô Giáo".
Sau cùng, Đức Thánh Cha cũng kêu gọi người Do Thái không nên chỉ nhìn lại đằng sau nhưng phải nhìn về phía trước, về những nghĩa vụ của hôm nay và ngày mai. "Gia sản phong phú chung của chúng ta và quan hệ huynh đệ của chúng ta do sự tín nhiệm gia tăng giữa chúng ta bắt buộc chúng ta cùng nhau làm chứng tá hòa hợp hơn nữa, cộng tác trong những lãnh vực thực hành để bảo vệ và thăng tiến những quyền con người và đặc tính thánh thiêng của sự sống con người, các giá trị của gia đình, công bằng xã hội và hòa bình trên thế giới. Mười giới răn đối với chúng ta là gia sản chung và là sự dấn thân chung. Mười giới răn không phải là một gánh nặng nhưng là bản chỉ đường hướng đến một cuộc sống thành công".
Đức Thánh Cha vừa dứt lời, toàn thể cộng đoàn Do Thái đứng dậy vỗ tay hoan hô nhiệt liệt.
Sau đó là phần trao đổi quà lưu niệm. Đại diện Do Thái tặng Đức Thánh Cha chiếc tù và. Theo truyền thống Do Thái đây là dụng cụ của nhà lãnh đạo dùng để triệu tập các tín hữu. Đức Thánh Cha đã tặng lại cho cộng đoàn Do Thái một cuốn Kinh Thánh cổ kính thật dày vốn được lưu trữ tại Vatican.
Lúc 13 giờ, Đức Thánh Cha đã rời hội đường Do Thái để về tòa Tổng Giám Mục Köln. Tại đây, ngài đã dùng bữa trưa với 12 đại diện của các bạn trẻ từ các đại lục.
![]() |
| Đức Thánh Cha và một em bé bị ung thư |
Cuộc gặp gỡ giữa Đức Thánh Cha và các chủng sinh đã diễn ra dưới hình thức của một buổi hát kinh chiều. Sau mỗi thánh vịnh, cộng đoàn đã lần lượt nghe chứng từ của một chủng sinh, một linh mục và của Đức Hồng Y Marc Ouellet, Tổng Giám Mục Quebéc, Canada. Đức Thánh Cha đã có bài chia sẻ quan trọng về việc đào tạo chủng sinh. VietCatholic sẽ đăng bản dịch bài chia sẻ quan trọng này.
Sau cuộc gặp gỡ kéo dài 1 giờ đồng hồ tại đây, Đức Thánh Cha đã về tòa Tổng Giám Mục Köln. Tại đây, lúc 18:15, Đức Thánh Cha đã có cuộc gặp gỡ với 30 đại diện các Giáo Hội và các cộng đoàn Kitô. Sau lời chào mừng của Đức Hồng Y Karl Lehmann, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Đức và của Giám Mục Tin Lành Wolfgang Huber, Đức Thánh Cha đã đọc bài diễn văn của ngài.
Trước hết, Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến gương mù đau thương của sự thiếu hiệp nhất. Đức Thánh Cha nói: "Vì là một người con sinh ra tại đất nước này, tôi ý thức rõ đến hoàn cảnh đau buồn mà sự không hiệp nhất trong việc tuyên xưng đức tin đã gây ra nơi nhiều cá nhân và gia đình. Đó là một trong những lý do mà ngay sau khi được chọn làm Giám mục của Roma, tôi đã tuyên bố rằng, trong tư cách là người kế vị thánh Tông đồ Phêrô, một ưu tiên của triều đại tôi là kiên trì dấn thân để tái lập sự hiệp nhất toàn vẹn và hữu hình của các kitô hữu.".
"Khi làm như thế, tôi chủ ý muốn bước theo vết chân của hai vị tiền nhiệm: Đức Giáo hoàng Phaolô VI, 40 năm trước đã ký sắc lệnh đại kết Unitatis Redintegratio của Công đồng, và Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II, người đã lấy tài liệu này làm gợi hứng cho hoạt động của ngài."
Về vai trò của nước Đức trong tiến trình đại kết, Đức Thánh Cha nói: "Trong việc đối thoại đại kết Nước Đức có một chỗ đứng đặc biệt quan trọng. Không chỉ vì đây là nơi phát sinh phong trào Cải cách; đây cũng còn là một trong những quốc gia mà phong trào đại kết của thế kỷ XX nảy sinh. Với những làn sóng di dân liên tiếp trong thế kỷ qua, các Kitô hữu từ Giáo hội Chính thống và các Giáo hội cổ xưa của Đông phương cũng đã tìm thấy một quê hương trong quốc gia này. Sự kiện này chắc chắn đã tạo thuận lợi cho việc tiếp xúc và trao đổi. Chúng ta có thể cùng nhau vui mừng vì việc đối thoại đại kết, theo giòng thời gian, đã đem lại một ý thức đổi mới về tình huynh đệ và đã tạo ra một bầu khí cởi mở và tin tưởng hơn giữa các Kitô hữu thuộc về các Giáo hội và Cộng đoàn Giáo hội khác nhau. Vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, trong Thông điệp Ut Unum Sint (1995) đã xem điều này như một hoa trái của đối thoại đặc biệt có ý nghĩa(x. Nos. 41ff; 64)."
Đức Thánh Cha đã thực hiện một tổng kết về quan hệ giữa các tín hữu Kitô, một mối quan hệ "không phải là một tình cảm mơ hồ, cũng chẳng phải là dấu chỉ của sự dửng dưng trước sự thật. Nó được cắm rễ trong thực tại siêu nhiên của một phép Thánh tẩy làm chúng ta nên chi thể của một Thân thể Đức Kitô". (x. 1 Cr 12,13; Gl 3,28; Col 2,12).
"Trên nền tảng chung này, sự đối thoại đã mang lại hoa trái. Tôi muốn ám chỉ đến việc xem xét lại các kết án lẫn nhau, do Đức Gioan-Phaolô II mời gọi nhân chuyến công du đầu tiên đến Nước Đức năm 1980, và nhất là 'Tuyên ngôn chung về giáo thuyết Công chính hoá' (1999), nảy sinh từ việc xem xét lại đó và dẫn đến một sự thoả thuận về các vấn đề cơ bản đã từng gây tranh cãi từ thế kỷ XVI. Chúng ta cũng nhìn nhận với lòng biết ơn những kết quả do những lập trường chung về các vấn đề quan trọng, chẳng hạn những câu hỏi nền tảng liên quan đến việc bảo vệ sự sống và cổ võ công lý và hoà bình. Tôi hoàn toàn ý thức rằng nhiều kitô hữu trong quốc gia này, và không chỉ trong quốc gia này, đang chờ mong những bước cụ thể hơn nữa đem chúng ta lại gần nhau hơn. Chính tôi cũng mong ước như thế. Đó là lệnh truyền của Chúa, nhưng cũng là đòi buộc của giây phút hiện tại, là tiếp tục cuộc đối thoại, với xác tín, ở mọi bình diện của đời sống Hội Thánh. Điều này phải thực hiện với lòng chân thành và thực tế, với nhẫn nại và kiên trì, hoàn toàn trung thành với tiếng nói của lương tâm. Không thể có đối thoại mà loại bỏ sự thật; đối thoại phải được tiến hành trong bác ái và sự thật."
Đặt thẳng vấn đề mà người Tin Lành Luther và Cải Cách tại Đức thường hay đề cập là vấn đề Giáo Hội Công Giáo không công nhận thánh chức của các mục sư Tin Lành, Đức Thánh Cha nói:
"Tôi không có ý vạch ra đây một chương trình về những chủ đề đối thoại sắp tới - công việc này là của các thần học gia làm việc cùng với các Giám mục. Tôi chỉ muốn nêu lên một nhận xét: các vấn đề giáo hội học, và đặc biệt vấn đề chức thánh hoặc chức linh mục, thì nối kết chặt chẽ với vấn đề mối tương quan giữa Thánh Kinh và Hội Thánh, nghĩa là việc giải thích đúng đắn Lời Thiên Chúa và sự khai triển Lời Chúa trong đời sống Hội Thánh."
"Một ưu tiên cấp bách khác trong việc đối thoại đại kết nảy sinh từ những câu hỏi đạo đức lớn của thời đại chúng ta; trong lãnh vực này, những người nghiên cứu hiện đại có quyền chờ đợi một câu trả lời chung về phía các kitô hữu, mà nhờ ơn Thiên Chúa, trong nhiều trường hợp đã được tìm ra. Nhưng hỡi ôi! Không phải là luôn luôn tìm thấy. Vì những lập trường mâu thuẫn trong lãnh vực này, chứng tá Tin mừng và sự hướng dẫn đạo đức mà chúng ta có nợ với các tín hữu và xã hội, mất đi sức mạnh và thường tỏ ra mơ hồ, và vì thế chúng ta thất bại trong bổn phận đưa ra những chứng tá cần thiết cho thời đại chúng ta. Sự chia rẽ của chúng ta đi ngược với ý muốn của Đức Giêsu và làm thất vọng những mong chờ của người đương thời."
Để vấn đề rõ ràng, Đức Thánh Cha minh bạch đưa ra ý nghĩa thế nào là hiệp nhất. Ngài nói:
"Tái lập sự hiệp nhất của tất cả các kitô hữu có nghĩa là gì? Giáo hội Công giáo nhắm đến sự hiệp nhất hữu hình và trọn vẹn của các môn đệ Đức Kitô, như đã xác định bởi Công đồng chung Vatican II trong những văn kiện khác nhau (x. Lumen Gentium, 8, 13; Unitatis Redintegratio, 2, 4, etc.). Theo niềm xác tín của chúng tôi, sự hiệp nhất này tồn tại trong Giáo hội Công giáo, không bao giờ bị mất đi (x. Unitatis Redintegratio, 4). Tuy nhiên điều này không có nghĩa là sự đồng nhất trong mọi diễn tả của thần học và linh đạo, trong phụng vụ và trong kỷ luật. Hiệp nhất trong đa dạng, và đa dạng trong hiệp nhất: trong bài giảng lễ thánh Phêrô và Phaolô ngày 29 tháng sáu vừa qua, tôi đã nhấn mạnh rằng sự hiệp nhất trọn vẹn và công giáo tính đích thực đi đôi với nhau. Một điều kiện cần thiết để có được sự chung sống này là sự dấn thân hiệp nhất phải thường xuyên được thanh tẩy và canh tân; phải thường xuyên tăng trưởng và trưởng thành. Nhắm mục đích này, đối thoại có phần riêng để đóng góp. Còn hơn là một sự trao đổi các tư tưởng, đó là một trao đổi các ân ban (x. Ut Unum Sint, 28), trong đó các Giáo hội và Cộng đoàn Giáo hội có thể đưa những kho tàng của riêng mình cho người khác sử dụng (x. Lumen Gentium, 8, 15; Unitatis Redintegratio, 3, 14ff; Ut Unum Sint, 10-14). Như một kết quả của sự dấn thân này, cuộc hành trình có thể tiến lên từng bước trên con đường đi đến sự hiệp nhất trọn vẹn, cuối cùng tất cả chúng ta sẽ “đạt tới sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, tới tình trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn của Đức Kitô” (Ep 4,13). Rõ ràng là sự đối thoại này chỉ có thể phát triển trong một bối cảnh của một đời sống thiêng thiêng chân thành và gắn bó. Chúng ta không thể “đem lại” sự hiệp nhất do bởi quyền năng của chúng ta mà thôi. Chúng ta chỉ có thể có được sự hiệp nhất như một ân ban của Chúa Thánh Thần. Vì thế, tinh thần đại kết - cầu nguyện, hoán cải và thánh hoá đời sống - phải được coi như là linh hồn của phong trào đại kết (x. Unitatis Redintegratio, 8; Ut Unum Sint, 15ff., 21, etc.). Ta có thể nói rằng hình thức tốt nhất của đại kết hệ tại ở việc sống phù hợp theo Tin mừng."
Để kết luận, Đức Thánh Cha đã đưa ra một số dấu chỉ lạc quan:
"Tôi thấy một lý do để lạc quan nơi sự kiện là ngày hôm nay một thứ 'mạng lưới' của những mối giây thiêng liêng đang phát triển giữa những người Công giáo và các kitô hữu thuộc các các Giáo hội và Cộng đoàn Giáo hội khác nhau: mỗi cá nhân nỗ lực cầu nguyện, xét lại cuộc sống mình, thanh tẩy ký ức, mở lòng sống đức ái. Ông tổ của tinh thần đại kết, Paul Couturier, đã nói về vấn đề này như một “đan viện vô hình”, quy tụ trong khuôn viên của mình những tâm hồn cháy bừng tình yêu đối với Đức Kitô và Hội Thánh của Người. Tôi xác tín rằng nếu người ta càng ngày càng hiệp nhất với nhau trong lời cầu nguyện của Chúa 'xin cho chúng nên một' (Ga 17,21), thì lời cầu nguyện này, nhân danh Đức Giêsu, sẽ không bị bỏ ngoài tai (x. Ga 14,13; 15,7, 16, etc.). Với sự trợ lực đến từ trên cao, chúng ta cũng sẽ tìm thấy những giải pháp cụ thể cho những vấn đề khác nhau đang bỏ ngỏ, và cuối cùng ước muốn hiệp nhất của chúng ta sẽ thành tựu, lúc nào và cách nào tùy Chúa muốn. Tôi mời gọi tất cả anh chị em cùng với tôi đi trên con đường này."


