Mary Ann Glrendon đại học Harvard chỉ Gốc rễ các vấn đề

ROME 4/11/ 2002 (Zenit. org). - Mary Ann Glendon tin những gương lạm dụng tình dục bao hàm các linh mục tại Huê kỳ, chỉ rõ một bài học chìa khóa: sự cần đào tạo.

Glendon, một giáo sư luật Harvard và vị đại diện đức Gioan Phaolô II tại Hội nghị Thế giới về người Nữ, nói bà đồng ý với nhà thần học Cha Richard John Neuhaus, chủ nhiệm chính tờ báo First Things, " khi cha nói cơn khủng hoảng năm 2002 gấp ba lần: trung thành, trung thành và trung thành. "

Nhưng, có lẽ vì tôi là một giáo sư, xem ra đối với tôi vấn đề không phải là sự trung thành cho bằng sự đào tạo, đào tạo và đào tạo--đào tạo các nhà thần học chúng ta, đào tạo các nhà giáo dục tôn giáo chúng ta, và như vậy là đào tạo cha mẹ, " Glendon nòi.

Giáo sư đưa ra những bình luận của bà hôm nay trong một hội nghị tại Giảng đường Giáo hoàng Regina Aostolorum về chủ đề "Giáo hội tại châu Mỹ: Cải tổ, Đổi mới và Vai tò Giáo dân trong một Thời kỳ hỗn loạn" (x. phiên Hội thảo).

Bà công nhận rằng người Công giáo đã đương đầu từ lâu các vấn đề tại Huê kỳ.

"Khi những di dân Công giáo bắt đầu đến với số đông, thì sự chống đối-đạo Công giáo về phía người Puritan liên kết với chủ thuyết địa phương và bùng nổ thành bạo loạn, " Glendon nói. "Trong năm 1843, một đám dông nổi giận đốt một tu viện Ursuline bình địa đang khi cảnh sát và những người chữa lửa đứng đó và nhìn. "

"Quyển sách quốc gia bán chạy nhất trong năm 1836 là một cuốn sách có ý bộc lộ những sự xưng thú có thật của một nữ tu-xuất--cuốn sách đó chứa đựng những tiết lộ vang dội về hành vi sai trái tình dục của các nữ tu và linh mục Công giáo."

"Cuốn sách này, "Những tiết lộ đáng sợ của Nữ tu viện Hotel Dieu, tác giả Maria Monk, " là một bịa đặt hoàn toàn, nhưng bán được 300. 000 quyển và giúp kích động những sự giận dữ bài-Công giáo, " bà nói. "Năm sau, năm 1937, những kẻ có ý gây hỏa hoạn đã phá hủy hầu hết khu phố Irish tại Boston, và những sự độc ác tương tự tái diễn khắp nước.

"Nhưng các di dân tiếp tục đổ vào--từ Ireland, Italy, Germany, Polang và những phần khác thuộc Đông Âu. Và khi tới khúc quanh thế kỷ, Giào hội Công giáo La mã là nhóm tôn giáo lớn nhất và tăng số mau nhất của xứ, với 12 triệu tín đồ, Đứng trước sự loại trừ và kỳ thị, những người di dân Công giáo này xây dựng hệ thống riêng mình về các trường học tiểu và trung, các bệnh viện và trường cao đẳng. Họ hình thành vô số tổ chức huynh đệ, xã hội, bác ái và nghề nghiệp--luật sư Công giáo, bác sĩ Công giáo, những hội lao động Công giáo. "
Glendon chỉ ra sự khủng hoảng của xã hội và của những người Công giáo cuối năm 1960.
"Năm 1960 đánh dấu bước đầu sự sụp đỗ trong những phong tục phái tính và một sự tăng lên trong sự phá vỡ gia đình, kèm theo là một văn hóa bất đồng quan điểm khi nhiều người cố gắng biện minh những sự chệch hướng của mình ra ngoài những qui luật luân lý, " bà nói. "Những nước phát triển, dấn thân vào một cuộc thí nghiệm xã hội rất lớn, mà cả Giáo hội cũng như các xã hội đang nói đến không được chuẩn bị.

"Chúng ta khó mà nhận thấy nhiều người Công giáo chúng ta đang phát triển một loại bịnh tâm thần phân liệt--đặt những sự sống thiêng liêng chúng ta trong một gian và các sinh hoạt hằng ngày chúng ta trong thế giới lao động trong một gian khác. Chúng ta hầu như không nhận thấy nhiều người Công giáo bắt đầu coi tôn giáo mình như là một việc hoàn toàn tư, và chấp nhận một sự kén cá chọn canh đối với giáo lý. "

Đối với cơn khủng hoảng bị đồng hóa với Giáo hội trong những tháng mới đây--cơn khủng hoảng lạm dụng tình dục của giáo sĩ--Glendon nêu lên một điểm nghi ngờ.

"Qua nhiều tháng, báo chí tạo ra một bầu khi cuồng loạn bằng cách mô tả câu truyện như là một khủng hoảng thích tình dục với trẻ em, khi trên thực tế chỉ có một thiểu số rất nhỏ những trường hợp được tường thuật bao gòm những kẻ thích tình dục với trẻ em--những người lạm dụng những trẻ em trước tuổi dậy thì--như khác với những quan hệ đồng phái tính với những trẻ nhỏ tuổi từ 13-19 (thanh thiếu niên)

"Qua nhiều tháng, và cho tới ngày nay, các phương tiện truyền thông đã lựa chọn Giáo hội Công giáo như là một địa điểm riêng cho những lạm dụng tình dục với trẻ em, đang khi tất cả các cuộc nghiên cứu chứng tỏ rằng mức độ xảy ra của những kiểu ứng xử sai trái này thật sự thấp hơn giữa các linh mục Công giáo, hơn là giữa các nhóm khác đến gần với trẻ em, " giáo sư luật Glendon chứng minh.

Khi trích tông thư hậu Thương hội đồng "Ecclesia in America" của Đức Gioan Phaolô II, Glendon nói: "châu America cần những giáo dân Kitô hữu có khả năng chiếm hữu những vị trí lãnh đạo trong xã hội.

"Điều cần thiết là đào tạo những người nam và ngươi nữ, theo ơn gọi của mình, có thể ảnh hưởng tới đời sống công và hương dẫn nó tới công ích. Điều này quả là một thách đố. Có thể nói, thời gian chưa bao giờ tốt hơn cho những người Công giáo tại Huê kỳ thực hiện thách đố này. "

"Có gần 64 triệu người chúng ta-gần một phần năm dân số Huê kỳ, " Glendo nói. "Và người Công giáo đã tới--họ đã giành được ảnh hưởng to lớn trong đời sống xã hội, nghề nghiệp, văn hóa và chính trị. Người ta có thể nghỉ rằng đã có đủ chất men để làm dậy khối bột xã hội. "