Hòa bình triển nở đẩy lui hận thù
Từ Vancouver một nghiên cứu mới cho thấy ngoại trừ những khủng bố quốc tế, còn những tử vong vì chiến tranh bạo loạn tại các quốc gia trên thế giới có phần suy giảm so với thập niên 1990.
Tổ chức An ninh dựa trên những nghiên cứu của Đại học Hoàng gia Anh Columbia ở tiểu bang Vancouver, Canada được các quốc gia Canada, Anh quốc, Na Uy và Thụy Sĩ bảo trợ công bố ngày 27/10, theo đó thì:
- Những tranh chấp bằng quân sự giảm 40% kể từ năm 1992. Những tranh chấp gây tử vong trên 1000 nạn nhân đã giảm thiểu 80%, một con số đáng kể.
- Những khủng khoảng tranh chấp quốc tế, thường là chiến tranh lạnh hoặc hăm dọa nhau giảm 70% trong các năm từ 1981 tới 2001.
- Con số các cuộc đảo chính bằng quân sự giảm 60% kể từ năm 1963. Trong năm 1963, có 25 cuộc đảo chính thì năm 2004 chỉ còn 10 cuộc đảo chính, nhưng cả 10 cuộc đều không thành.
- Hầu hết những tranh chấp bằng võ lực quân sự xảy ra trong các nước đệ tam, khi nền kinh tế của các nước đó giầu mạnh thì nguy cơ chiến tranh cũng giảm.
- Thời gian từ sau Thế chiến thứ II đến nay là một thời gian dài nhất không có một cuộc chiến nào lớn trong nhiều thế kỷ nay.
- Anh và Pháp, tiếp theo là Hoa kỳ và Liên xô là những quốc gia nhập cuộc trong hầu hết trong các cuộc chiến thế giới kể từ 1946.
- So sánh con số người bị chết vì chiến tranh hàng năm, vào năm 1950 là 38,000; nhưng vào năm 2002 chỉ có 600.
- Hầu hết các cuộc chiến hiện nay xảy ra ở Phi Châu và tính cho tới cuối thập niên 1990 thì số người tử trận ở Phi Châu vùng sa mạc Sahara nhiều hơn so với tất cả tổng số những người bị chết vì đánh nhau trên toàn thế giới cộng lại.
- Con số những người chết vì chiến trận không bao nhiêu so với con số bị tử vong vì đói kém và bệnh tật do chiến tranh gây ra. Con số này có thể chiếm tới 90% tổng số những người bị chết vì trận địa. Ví dụ trong trận chiến ở Congo có tới 3.3 triệu người chết. Họ chết vì đói và tật bệnh do chiến tranh gây ra trong những năm 1998-2002.
Lý do gì mà những tranh chấp suy giảm
An toàn của nhân loại ngày nay có thể tập trung vào ba điểm:
- Thứ nhất tình trạng đô hộ hay chế độ thuộc địa đã bị cáo chung, vì từ năm 1950 tới 1980 những tranh chấp chiến tranh xảy ra có thể nói là từ 60% tới 100% là do chế độ đô hộ thuộc địa.
- Thứ hai là chiến tranh lạnh đã được chấm dứt, chiến tranh lạnh đã kéo cả 1/3 nhân loại vào cuộc Thế chiến thứ hai.
- Thứ ba nhờ vào những nỗ lực quốc tế dàn xếp những xung đột và ngăn ngừa chiến tranh.
Trên lãnh vự chính trị:
Yếu tố thứ ba vừa kể trên là nỗ lực cho các hoạt động của Liên Hiệp Quốc với sứ mệnh hòa bình hòa giải... Và biện pháp chế tài cấm vận được áp dụng cho các nước làm sai quấy. Nhờ những nỗ lực toàn cầu này mà vào cuối năm 1970 trên toàn thế giới có tới 90 chính phủ độc tài, nhưng vào năm 2003 con số đó tụt giảm chỉ còn khoảng 10 chính phủ độc tài mà thôi.
Chiến tranh ảnh hưởng trên thường dân vô tội
Bản nghiên cứu đã học hỏi về ảnh hưởng của chiến tranh trên thường dân vô tội cho hay từ năm 1980 tới năm 1992 con số thường dân vô tội bị ảnh hưởng bởi chiến tranh thay vì giảm lại tăng từ 16 triệu người lên 40 triệu người. Bản nghiên cứu cho hay không tìm ra nguyên do tại sao và bản nghiên cứu cũng đăt một câu hỏi về sự chính xác của con số.
Ví dụ: những thường dân vô tội bị chiến tranh ảnh hưởng 80% là đàn bà con nít. Bản nghiên cứu cũng cho hay đại đa số đàn bà bị hiếp đáp hay bị ngược đãi... Rồi trong ba thập niên qua, nhiều chính phủ cũng lạm dụng bắt giới trẻ vị thành niên gia nhập quân đội mà bản nghiên cứu cho hay tổng số trẻ em phải gia nhập quân đội lên tới 300,000 em.
Khủng bố
Tổ chức Nhân quyền cho hay trong 30 năm qua, hàng năm nạn khủng bố giết chết cả 1000 người.
Từ khi Hoa Kỳ cầm đầu cuộc chiến chống khủng bố tới nay, sự căng thẳng trước cao trào chống Mỹ trong giới Hồi giáo gia tăng đưa tới sự hăm dọa của Hồi giáo cực đoan hay nhóm khủng bố có thể dùng võ khí sát thương hoàng loạt tấn công.
Trước thực tại này, toàn cầu vẫn ý thức rằng giải đáp tốt đẹp khả thi vẫn là hoạt động của Liên Hiệp Quốc, một tổ chức nắm giữ một vai trò quan yếu cho toàn cầu.
Từ Vancouver một nghiên cứu mới cho thấy ngoại trừ những khủng bố quốc tế, còn những tử vong vì chiến tranh bạo loạn tại các quốc gia trên thế giới có phần suy giảm so với thập niên 1990.
Tổ chức An ninh dựa trên những nghiên cứu của Đại học Hoàng gia Anh Columbia ở tiểu bang Vancouver, Canada được các quốc gia Canada, Anh quốc, Na Uy và Thụy Sĩ bảo trợ công bố ngày 27/10, theo đó thì:
- Những tranh chấp bằng quân sự giảm 40% kể từ năm 1992. Những tranh chấp gây tử vong trên 1000 nạn nhân đã giảm thiểu 80%, một con số đáng kể.
- Những khủng khoảng tranh chấp quốc tế, thường là chiến tranh lạnh hoặc hăm dọa nhau giảm 70% trong các năm từ 1981 tới 2001.
- Con số các cuộc đảo chính bằng quân sự giảm 60% kể từ năm 1963. Trong năm 1963, có 25 cuộc đảo chính thì năm 2004 chỉ còn 10 cuộc đảo chính, nhưng cả 10 cuộc đều không thành.
- Hầu hết những tranh chấp bằng võ lực quân sự xảy ra trong các nước đệ tam, khi nền kinh tế của các nước đó giầu mạnh thì nguy cơ chiến tranh cũng giảm.
- Thời gian từ sau Thế chiến thứ II đến nay là một thời gian dài nhất không có một cuộc chiến nào lớn trong nhiều thế kỷ nay.
- Anh và Pháp, tiếp theo là Hoa kỳ và Liên xô là những quốc gia nhập cuộc trong hầu hết trong các cuộc chiến thế giới kể từ 1946.
- So sánh con số người bị chết vì chiến tranh hàng năm, vào năm 1950 là 38,000; nhưng vào năm 2002 chỉ có 600.
- Hầu hết các cuộc chiến hiện nay xảy ra ở Phi Châu và tính cho tới cuối thập niên 1990 thì số người tử trận ở Phi Châu vùng sa mạc Sahara nhiều hơn so với tất cả tổng số những người bị chết vì đánh nhau trên toàn thế giới cộng lại.
- Con số những người chết vì chiến trận không bao nhiêu so với con số bị tử vong vì đói kém và bệnh tật do chiến tranh gây ra. Con số này có thể chiếm tới 90% tổng số những người bị chết vì trận địa. Ví dụ trong trận chiến ở Congo có tới 3.3 triệu người chết. Họ chết vì đói và tật bệnh do chiến tranh gây ra trong những năm 1998-2002.
Lý do gì mà những tranh chấp suy giảm
An toàn của nhân loại ngày nay có thể tập trung vào ba điểm:
- Thứ nhất tình trạng đô hộ hay chế độ thuộc địa đã bị cáo chung, vì từ năm 1950 tới 1980 những tranh chấp chiến tranh xảy ra có thể nói là từ 60% tới 100% là do chế độ đô hộ thuộc địa.
- Thứ hai là chiến tranh lạnh đã được chấm dứt, chiến tranh lạnh đã kéo cả 1/3 nhân loại vào cuộc Thế chiến thứ hai.
- Thứ ba nhờ vào những nỗ lực quốc tế dàn xếp những xung đột và ngăn ngừa chiến tranh.
Trên lãnh vự chính trị:
Yếu tố thứ ba vừa kể trên là nỗ lực cho các hoạt động của Liên Hiệp Quốc với sứ mệnh hòa bình hòa giải... Và biện pháp chế tài cấm vận được áp dụng cho các nước làm sai quấy. Nhờ những nỗ lực toàn cầu này mà vào cuối năm 1970 trên toàn thế giới có tới 90 chính phủ độc tài, nhưng vào năm 2003 con số đó tụt giảm chỉ còn khoảng 10 chính phủ độc tài mà thôi.
Chiến tranh ảnh hưởng trên thường dân vô tội
Bản nghiên cứu đã học hỏi về ảnh hưởng của chiến tranh trên thường dân vô tội cho hay từ năm 1980 tới năm 1992 con số thường dân vô tội bị ảnh hưởng bởi chiến tranh thay vì giảm lại tăng từ 16 triệu người lên 40 triệu người. Bản nghiên cứu cho hay không tìm ra nguyên do tại sao và bản nghiên cứu cũng đăt một câu hỏi về sự chính xác của con số.
Ví dụ: những thường dân vô tội bị chiến tranh ảnh hưởng 80% là đàn bà con nít. Bản nghiên cứu cũng cho hay đại đa số đàn bà bị hiếp đáp hay bị ngược đãi... Rồi trong ba thập niên qua, nhiều chính phủ cũng lạm dụng bắt giới trẻ vị thành niên gia nhập quân đội mà bản nghiên cứu cho hay tổng số trẻ em phải gia nhập quân đội lên tới 300,000 em.
Khủng bố
Tổ chức Nhân quyền cho hay trong 30 năm qua, hàng năm nạn khủng bố giết chết cả 1000 người.
Từ khi Hoa Kỳ cầm đầu cuộc chiến chống khủng bố tới nay, sự căng thẳng trước cao trào chống Mỹ trong giới Hồi giáo gia tăng đưa tới sự hăm dọa của Hồi giáo cực đoan hay nhóm khủng bố có thể dùng võ khí sát thương hoàng loạt tấn công.
Trước thực tại này, toàn cầu vẫn ý thức rằng giải đáp tốt đẹp khả thi vẫn là hoạt động của Liên Hiệp Quốc, một tổ chức nắm giữ một vai trò quan yếu cho toàn cầu.