Qua những ngày vừa qua, Vietcatholic đã cống hiến bạn đọc để nhận định vai trò của Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong việc làm sụp đổ chế độ cộng sản Âu Châu dưới cái nhìn của ký giả Carl Bernstein trên tuần báo Time. Carl Benstein đã nhìn dưới góc độ từ một quốc gia Hoa Kỳ, mặc dầu với những tình tiết lý thú và chi tiết nhưng ông đã quên đi vai trò của Giáo Hoàng trong 2 chuyến tông du tới Ba Lan trước khi chế độ Cộng Sản tại đây sụp đổ. Từ "Liên Minh Thánh", nhưng thực chất chính Đức Giáo Hoàng đã nhiều lần chỉ trích chính sách của Hoa Kỳ. Cuối cùng là một sự có thể nói là sai lạc khi ông đưa ra là tài khoản bí mật của Tòa Thánh cung cấp cho Phong Trào Đoàn Kết...
Dưới cái nhìn của nhiều nhà quan sát chính trị quốc tế, lịch sử sẽ vẫn mãi ghi nhớ Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II được coi như người cha tinh thần cho sự thất bại và kết liễu của chế độ cộng sản.
Mặc dầu chính Đức Giáo Hoàng đã từ chối dành uy tín cho mình đến sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Âu và sự sa sút tại những nơi khác trên thế giới, thế nhưng Đức Giáo Hoàng đã say mê nhận thức rằng sự kích động về mặt luân lý của ngài đặc biệt là tại cố hương Ba Lan đã giúp để vẽ lại bản đồ ý thức hệ vào cuối thập niên 20.
Trong một cuộc phỏng vấn vào năm 1993, Đức Thánh Cha nói: "Tôi nghĩ vai trò quyết định do tự Kitô giáo: nội dung, tôn giáo, sứ điệp và thực chất bảo vệ cá nhân con người của nó. Tất cả những gì tôi làm là gợi lại điều này, lập lại nó và nhấn mạnh vào nó".
Được bầu lên ngôi Giáo Hoàng vào năm 1978 là một giáo hoàng xuất thân từ sau bức màn sắt của xã hội chủ nghĩa, ngay lập tức đã dấy lên sự chú ý từ Washington và sự lo sợ từ Moscow, là hai cực của một thời Chiến Tranh Lạnh. Qua nhiều thập niên Tòa Thánh đã đeo đuổi một chính sách thương lượng âm thầm với các chính quyền cộng sản, để đạt đết sự nhân nhượng thực sự cho các quyền tôn giáo. Nhiều người đã nghĩ rằng vị tân giáo hoàng sẽ đưa ra một chính sách chính trị "Ostpolitik" thiên đến một đường lối công kích hơn.
Nhưng cuối cùng thì Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã thực hiện "Ostpolitik" theo chính đường lối của ngài. Đức Thánh Cha tiếp tục những cuộc thương thảo âm thầm, thế nhưng trong các văn kiện và qua các bài diễn văn khắp nơi trên thế giới Ngài đã không im lặng đến tư tưởng cộng sản và những hành xử của nó.
Điển hình như vào năm 1984, Đức Thánh Cha đã công khai chỉ trích Moscow đã không để ngài đến Lithuania cho việc cử hành nghi lễ tôn giáo. Trong cùng một năm đó, một văn kiện tòa thánh đã được Đức Gioan Phaolô chuẩn y đã nói đến chế độ cộng sản là "sự tủi nhục trong thời đại chúng ta".
Địa bàn thử thách thực sự cho sự tự do tại Đông Âu chính là nước Ba Lan của ngài. Lên ngôi Giáo Hoàng được một năm, Đức Giáo Hoàng đã về thăm cố hương Ba Lan vào năm 1979 là lần đầu tiên trong 9 lần về thăm cố hương trong ngôi giáo hoàng, chính ngài đã giúp để khơi động một ý thức tâm linh mà nó đã nuôi dưỡng niềm hy vọng chính trị cho Phong Trào Đoàn Kết. Sau khi áp đặt thiết quân luật và ngăn cấm Phong Trào Đoàn Kết hoạt động vào năm 1981, Đức Giáo Hoàng lại trở về cố hương Ba Lan mất đi can đảm vào năm 1983, rồi qua những bài diễn từ này đến những bài diễn từ khác đã nâng chí khí và sự kiên quyết về mặt chính trị cho quốc gia ngài.
Đức Giáo Hoàng đã trở về cố hương Ba Lan lần thứ 3 vào năm 1987, lần này ngài đã ca ngợi nguồn gốc những tư tưởng của Phong Trào Đoàn Kết, chỉ trích kịch liệt đến lý lịch lao động của chế độ, kêu gọi đến tự do tôn giáo và lên tiếng rằng chủ nghĩa Mác đã mất tín nhiệm.
Đức Giáo Hoàng đã nói với hàng triệu người Ba Lan tại Gdansk nơi mà các phong trào đòi dân chủ đã bắt đầu, ngài lên tiếng "hãy giữ sức của anh chị em cho tương lai".
Từ năm 1980 trở đi, Hoa Kỳ và các viên chức cao cấp từ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, cơ quan tình báo CIA đã báo cáo cho Đức Giáo Hoàng về các chính sách của Sô Viết tại Ba Lan và tại các nơi khác. Tòa thánh không hề phủ nhận rằng những cuộc hội thảo đã diễn ra nhưng Tòa Thánh khước từ khi nói rằng Vatican- Hoa Kỳ là "Liên Minh Thánh" để đạp đổ chủ nghĩa cộng sản.
Thật vậy, khi vết rạn lớn đầu tiên xuất hiện trên bộ mặt cộng sản tại Âu Châu, Đức Giáo Hoàng đã quay về Đông phương để cần sự giúp đỡ chứ không còn cậy đến Tây phương nữa. Sự thương lượng của Đức Thánh Cha với vị chủ tịch Sô Viết Mikhail Gorbachev đã lên đến tột điểm qua chuyến viếng thăm lịch sử tại Vatican vào năm 1989 và đã dẫn đến sự phục hồi các quyền của giáo hội trên khắp khối Sô Viết.
Khi Công Đoàn Sô Viết tan rã, Tòa Thánh Vatican đã đi một bước tiến xa hơn bằng cách nhanh chóng thiết lập mối quan hệ ngoại giao với những quốc gia mới độc lập. Như lời Đức Giáo Hoàng nói, thật rõ ràng là tư tưởng Mác đã "hoàn toàn kiệt quệ".
Một phần quan trọng trong chính sách của Đức Giáo Hoàng là khuyến khích các quốc gia cộng sản ký các hiệp định về nhân quyền, rồi nhấn mạnh đến sự tuân thủ theo đó. Thí dụ Tòa Thánh đã nhiều lần kếu gọi đến Thỏa Ước Helsinki và những hiệp định kế tiếp tại Vienna vào năm 1989 khi thảo luận đến tình trạnh nhân quyền tại Đông Âu. Hội nghị Helsinki bắt đầu thành lập từ năm 1975 quy tụ 35 quốc gia trong đó có Liên Sô và Hoa Kỳ.
Một yếu tố khác khác có tích cách hữu hiệu đối với Đức Giáo Hoàng là sự "chúc lành" của Tòa Thánh, thật sự quan trọng đối với những quốc gia kiếm tìm sự giúp đỡ về mặt kinh tế và chính trị tại phương Tây. Khi tư tưởng cộng sản sa thế, các chế độ đôi khi rêu rao đến đường hướng tự do hơn bằng cách cống hiến những nhân nhượng đến tự do tôn giáo.
Đức Giáo Hoàng cũng áp dụng cùng chính sách trong chuyến tông du lịch sử đến nước cộng sản Cuba vào năm 1998, đã khuyến khích chủ tịch Fidel Castro hãy cải tổi chính trị và tôn giáo, cùng lúc ngài đã cảnh giác đến cộng đồng quốc tế hãy chấm dứt sự cô lập đến vùng Caribbean.
Trong khi nhiều nơi trên thế giới hụt hững vì sự tan rã nhanh chóng của chủ nghĩa cộng sản, thì đối với Tòa Thánh Vatican dường như đã chuẩn bị kỹ càng. Theo cựu đại sứ Hoa Kỳ làm việc bên cạnh Tòa Thánh Vatican, ông Frank Shakespeare, cho biết các vị hồng y đã nhìn thấy trước khi chọn tân giáo hoàng Gioan Phaolô II.
Ông Shakespeare đã nói vào năm 1997 rằng, các hồng y đã chọn một vị từ Krakow- Balan là "trung tâm địa dư của đại lục", là một người Âu Châu Sla Vơ (Slav), là một "cây cầu giữa Đông và Tây". Đức Giáo Hoàng đã nói nhiều thứ tiếng trong vùng, điều này đã làm nên một sự khác biệt cả thể.
Khi Phong Trào Đoàn Kết nắm quyền hành tại Ba Lan và các phong trào đòi dân chủ đã bắt đầu bành trướng lan tràn tới các quốc gia khác. Các bản tường trình không còn bị kẹt lại tại các văn phòng bộ ngoại giao Vatican, nhưng được gởi thẳng đến Đức Gioan Phaolô là vị mục tử đã dẫn dắt đoàn chiên ngài trong suốt 30 năm dưới chế độ cộng sản.
Ông Shakespeare nói tiếp: "Từ quan điểm điều hành, Giáo Hội Công Giáo đã sửa soạn một cách tuyệt hảo cho những gì đã xảy ra".
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhận thức rằng chiến thắng về mặt luân lý đối với cộng sản đã đánh dấu sự khởi đầu một giai đoạn tổ chức lại một cách tinh tế cho giáo hội và thừa tác mục vụ. Trong thời gian một thập niên, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II công bố đến 2 thượng hội đồng giám mục đặc biệt tại Âu Châu để bàn thảo đến những hoạch định truyền bá Tin Mừng sau khi chế độ cộng sản tại Sô Viết sụp đổ, và nhấn mạnh đến những hậu quả đồi phong bại tục của một nửa thế kỷ do cộng sản để lại không thể bị tẩy trừ qua một đêm.
Đức Giáo Hoàng cũng khước từ đến tư tưởng chiến thắng chủ nghĩa. Thay vì nhảy múa trên đám mồ cộng sản thì Ngài đã đưa ra cảnh cảo đến chủ nghĩa tư bản với những nguy hiểm của nó, đặc biệt là tại các quốc gia vừa thoát khỏi bóng tối của tư tưởng Mác. Đức Thánh Cha đã đưa ra điểm này khi thực hiện chuyến tông du tới 18 nước cựu thuộc địa liên bang Sô Viết trong những năm trước khi ngài từ trần.
Ngày mai: Tín hiệu Fatima và sự sa lầy của chế độ cộng sản Nga
Dưới cái nhìn của nhiều nhà quan sát chính trị quốc tế, lịch sử sẽ vẫn mãi ghi nhớ Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II được coi như người cha tinh thần cho sự thất bại và kết liễu của chế độ cộng sản.
Mặc dầu chính Đức Giáo Hoàng đã từ chối dành uy tín cho mình đến sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Âu và sự sa sút tại những nơi khác trên thế giới, thế nhưng Đức Giáo Hoàng đã say mê nhận thức rằng sự kích động về mặt luân lý của ngài đặc biệt là tại cố hương Ba Lan đã giúp để vẽ lại bản đồ ý thức hệ vào cuối thập niên 20.
Trong một cuộc phỏng vấn vào năm 1993, Đức Thánh Cha nói: "Tôi nghĩ vai trò quyết định do tự Kitô giáo: nội dung, tôn giáo, sứ điệp và thực chất bảo vệ cá nhân con người của nó. Tất cả những gì tôi làm là gợi lại điều này, lập lại nó và nhấn mạnh vào nó".
Được bầu lên ngôi Giáo Hoàng vào năm 1978 là một giáo hoàng xuất thân từ sau bức màn sắt của xã hội chủ nghĩa, ngay lập tức đã dấy lên sự chú ý từ Washington và sự lo sợ từ Moscow, là hai cực của một thời Chiến Tranh Lạnh. Qua nhiều thập niên Tòa Thánh đã đeo đuổi một chính sách thương lượng âm thầm với các chính quyền cộng sản, để đạt đết sự nhân nhượng thực sự cho các quyền tôn giáo. Nhiều người đã nghĩ rằng vị tân giáo hoàng sẽ đưa ra một chính sách chính trị "Ostpolitik" thiên đến một đường lối công kích hơn.
Nhưng cuối cùng thì Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã thực hiện "Ostpolitik" theo chính đường lối của ngài. Đức Thánh Cha tiếp tục những cuộc thương thảo âm thầm, thế nhưng trong các văn kiện và qua các bài diễn văn khắp nơi trên thế giới Ngài đã không im lặng đến tư tưởng cộng sản và những hành xử của nó.
Điển hình như vào năm 1984, Đức Thánh Cha đã công khai chỉ trích Moscow đã không để ngài đến Lithuania cho việc cử hành nghi lễ tôn giáo. Trong cùng một năm đó, một văn kiện tòa thánh đã được Đức Gioan Phaolô chuẩn y đã nói đến chế độ cộng sản là "sự tủi nhục trong thời đại chúng ta".
Địa bàn thử thách thực sự cho sự tự do tại Đông Âu chính là nước Ba Lan của ngài. Lên ngôi Giáo Hoàng được một năm, Đức Giáo Hoàng đã về thăm cố hương Ba Lan vào năm 1979 là lần đầu tiên trong 9 lần về thăm cố hương trong ngôi giáo hoàng, chính ngài đã giúp để khơi động một ý thức tâm linh mà nó đã nuôi dưỡng niềm hy vọng chính trị cho Phong Trào Đoàn Kết. Sau khi áp đặt thiết quân luật và ngăn cấm Phong Trào Đoàn Kết hoạt động vào năm 1981, Đức Giáo Hoàng lại trở về cố hương Ba Lan mất đi can đảm vào năm 1983, rồi qua những bài diễn từ này đến những bài diễn từ khác đã nâng chí khí và sự kiên quyết về mặt chính trị cho quốc gia ngài.
Đức Giáo Hoàng đã trở về cố hương Ba Lan lần thứ 3 vào năm 1987, lần này ngài đã ca ngợi nguồn gốc những tư tưởng của Phong Trào Đoàn Kết, chỉ trích kịch liệt đến lý lịch lao động của chế độ, kêu gọi đến tự do tôn giáo và lên tiếng rằng chủ nghĩa Mác đã mất tín nhiệm.
Đức Giáo Hoàng đã nói với hàng triệu người Ba Lan tại Gdansk nơi mà các phong trào đòi dân chủ đã bắt đầu, ngài lên tiếng "hãy giữ sức của anh chị em cho tương lai".
Từ năm 1980 trở đi, Hoa Kỳ và các viên chức cao cấp từ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, cơ quan tình báo CIA đã báo cáo cho Đức Giáo Hoàng về các chính sách của Sô Viết tại Ba Lan và tại các nơi khác. Tòa thánh không hề phủ nhận rằng những cuộc hội thảo đã diễn ra nhưng Tòa Thánh khước từ khi nói rằng Vatican- Hoa Kỳ là "Liên Minh Thánh" để đạp đổ chủ nghĩa cộng sản.
Thật vậy, khi vết rạn lớn đầu tiên xuất hiện trên bộ mặt cộng sản tại Âu Châu, Đức Giáo Hoàng đã quay về Đông phương để cần sự giúp đỡ chứ không còn cậy đến Tây phương nữa. Sự thương lượng của Đức Thánh Cha với vị chủ tịch Sô Viết Mikhail Gorbachev đã lên đến tột điểm qua chuyến viếng thăm lịch sử tại Vatican vào năm 1989 và đã dẫn đến sự phục hồi các quyền của giáo hội trên khắp khối Sô Viết.
Khi Công Đoàn Sô Viết tan rã, Tòa Thánh Vatican đã đi một bước tiến xa hơn bằng cách nhanh chóng thiết lập mối quan hệ ngoại giao với những quốc gia mới độc lập. Như lời Đức Giáo Hoàng nói, thật rõ ràng là tư tưởng Mác đã "hoàn toàn kiệt quệ".
Một phần quan trọng trong chính sách của Đức Giáo Hoàng là khuyến khích các quốc gia cộng sản ký các hiệp định về nhân quyền, rồi nhấn mạnh đến sự tuân thủ theo đó. Thí dụ Tòa Thánh đã nhiều lần kếu gọi đến Thỏa Ước Helsinki và những hiệp định kế tiếp tại Vienna vào năm 1989 khi thảo luận đến tình trạnh nhân quyền tại Đông Âu. Hội nghị Helsinki bắt đầu thành lập từ năm 1975 quy tụ 35 quốc gia trong đó có Liên Sô và Hoa Kỳ.
Một yếu tố khác khác có tích cách hữu hiệu đối với Đức Giáo Hoàng là sự "chúc lành" của Tòa Thánh, thật sự quan trọng đối với những quốc gia kiếm tìm sự giúp đỡ về mặt kinh tế và chính trị tại phương Tây. Khi tư tưởng cộng sản sa thế, các chế độ đôi khi rêu rao đến đường hướng tự do hơn bằng cách cống hiến những nhân nhượng đến tự do tôn giáo.
Đức Giáo Hoàng cũng áp dụng cùng chính sách trong chuyến tông du lịch sử đến nước cộng sản Cuba vào năm 1998, đã khuyến khích chủ tịch Fidel Castro hãy cải tổi chính trị và tôn giáo, cùng lúc ngài đã cảnh giác đến cộng đồng quốc tế hãy chấm dứt sự cô lập đến vùng Caribbean.
Trong khi nhiều nơi trên thế giới hụt hững vì sự tan rã nhanh chóng của chủ nghĩa cộng sản, thì đối với Tòa Thánh Vatican dường như đã chuẩn bị kỹ càng. Theo cựu đại sứ Hoa Kỳ làm việc bên cạnh Tòa Thánh Vatican, ông Frank Shakespeare, cho biết các vị hồng y đã nhìn thấy trước khi chọn tân giáo hoàng Gioan Phaolô II.
Ông Shakespeare đã nói vào năm 1997 rằng, các hồng y đã chọn một vị từ Krakow- Balan là "trung tâm địa dư của đại lục", là một người Âu Châu Sla Vơ (Slav), là một "cây cầu giữa Đông và Tây". Đức Giáo Hoàng đã nói nhiều thứ tiếng trong vùng, điều này đã làm nên một sự khác biệt cả thể.
Khi Phong Trào Đoàn Kết nắm quyền hành tại Ba Lan và các phong trào đòi dân chủ đã bắt đầu bành trướng lan tràn tới các quốc gia khác. Các bản tường trình không còn bị kẹt lại tại các văn phòng bộ ngoại giao Vatican, nhưng được gởi thẳng đến Đức Gioan Phaolô là vị mục tử đã dẫn dắt đoàn chiên ngài trong suốt 30 năm dưới chế độ cộng sản.
Ông Shakespeare nói tiếp: "Từ quan điểm điều hành, Giáo Hội Công Giáo đã sửa soạn một cách tuyệt hảo cho những gì đã xảy ra".
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhận thức rằng chiến thắng về mặt luân lý đối với cộng sản đã đánh dấu sự khởi đầu một giai đoạn tổ chức lại một cách tinh tế cho giáo hội và thừa tác mục vụ. Trong thời gian một thập niên, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II công bố đến 2 thượng hội đồng giám mục đặc biệt tại Âu Châu để bàn thảo đến những hoạch định truyền bá Tin Mừng sau khi chế độ cộng sản tại Sô Viết sụp đổ, và nhấn mạnh đến những hậu quả đồi phong bại tục của một nửa thế kỷ do cộng sản để lại không thể bị tẩy trừ qua một đêm.
Đức Giáo Hoàng cũng khước từ đến tư tưởng chiến thắng chủ nghĩa. Thay vì nhảy múa trên đám mồ cộng sản thì Ngài đã đưa ra cảnh cảo đến chủ nghĩa tư bản với những nguy hiểm của nó, đặc biệt là tại các quốc gia vừa thoát khỏi bóng tối của tư tưởng Mác. Đức Thánh Cha đã đưa ra điểm này khi thực hiện chuyến tông du tới 18 nước cựu thuộc địa liên bang Sô Viết trong những năm trước khi ngài từ trần.
Ngày mai: Tín hiệu Fatima và sự sa lầy của chế độ cộng sản Nga