Mặt trái của nhân quyền
Vào năm 1998, trong đêm Giáng Sinh, các người Ấn Giáo quá khích ở Ấn Độ đã tổ chức cuộc biểu tình tấn công các người Kitô Giáo. Họ đánh đập người Kitô Giáo, đốt sách Kinh Thánh, phá hủy nhà thờ tại quận hạt Dang, cách thủ đô Delhi 1500 cây số về phía Tây Nam.
Ông Paresh Vasava, một Mục sư Tin Lành, cho biết kể từ đó, mỗi mùa Giáng Sinh đến là mỗi mùa người Kitô hữu sống trong lo âu, sợ sệt vì có tin đồn là sẽ có cuộc biểu tình tấn công. Thế rồi có những mùa Giáng Sinh cũng qua đi trong an bình.
Ông Paresh Vasava nói rằng giáo dân Kitô Giáo lo âu nhất là khi Hội Đồng Thế Giới Ấn Giáo Vishwa Hindu Parishad, gọi tắt là VHP, loan báo kế hoạch bắt tất cả người Kitô Giáo ở quận hạt Dang phải trở về Ấn Giáo. Ban đầu, họ định thi hành kế hoạch này tại Navapur nhưng giới chức chính quyền địa phương không cho phép. Do đó, họ đã tổ chức các cuộc biểu tình bạo động tại Gujarat.
Đảng Nhân Dân Ấn Độ (Bharatiya Janata Party, gọi tắt là BJP) đang nắm chính quyền tại Gujarat muốn Ấn Giáo phải là quốc giáo. Đảng này tích cực ủng hộ Hội Đồng Ấn Giáo. Các giới chức của Hội Đồng này tuyên bố họ sẽ nỗ lực đem hết tất cả người Kitô Giáo trở về Ấn Giáo.
Luật của tiểu bang Gujarat quy định rằng bất cứ người nào ép buộc người khác hay dùng phương tiện bất chính để một người cải sang đạo khác sẽ bị phạt tù 3 năm và phạt tiền 100.000 rupees (khoảng 200 Mỹ kim). Nếu người cải đạo là phụ nữ, thiếu nhi hay những người thuộc giai cấp bần cùng nhất thì thời gian phạt tù tăng lên 4 năm. Luật này được ban hành để ngăn chận những người theo Ấn Giáo cải sang các tôn giáo khác.
MỘT THỰC TRẠNG ĐÁNG QUAN TÂM
Hôm 22.4.2005, khoảng 200 người Ấn Giáo cực đoan trang bị giáo mác, gậy gộc và đuốc đến đốt cháy thờ Lamding cách Imphal, thủ phủ bang Manipur (đông bắc Ấn) 21 km. Vụ tấn công đã diễn ra đúng vào ngày Giáo Hội có Đức Tân Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI. Cộng đoàn Công Giáo tại đây đau buồn vô cùng trước biến cố này vì đây là ngôi nhà thờ mới xây xong sau bao nhiêu khó nhọc của anh chị em giáo dân.
Đức Cha Dominic Lumon, Giám Mục Phụ Tá của Tổng Giáo Phận Imphal, đã lo ngại rằng “tình hình trở nên bạo động quá sức và những biến cố ẩu đả nhau như thế này thật là thảm họa.”
Gần như tháng nào chúng tôi cũng nhận được những bản tin tương tự như thế qua Internet. Trong tháng 11 vừa qua, hơn 40 gia đình cư ngụ tại làng Roopapali, cách thủ đô New Delhi khoảng 1.400km về phía Nam, đã phải bỏ Công Giáo theo Ấn Giáo để có công ăn việc làm và được trợ cấp tài chánh.
Chị Kaithabai Surjha, giáo viên vườn trẻ, đãû nói: “Ông chủ tịch làng đã bảo tôi rằng chị không thể tiếp tục giữ việc làm này nếu chị là người Kitô Giáo”. Chồng chị, ông Hemlal, là một nông dân, cho biết ông phải trở lại Ấn Giáo vì nếu không, ông sẽ không được trợ cấp của chính phủ dành cho người Dalit là giai cấp cùng đinh trong xã hội. Chính quyền đã quyết định không trợ cấp cho những ai là người Kitô Giáo.
Ông Bà Hemlal là người Công Giáo có 3 con đã được rửa tội, nhưng những người con này nói với cha xứ đừng đến thăm và đừng gửi giáo lý viên đến làng nữa.
Ông Abraham Narayan, một giáo lý viên có họ hàng với một số ga đình bị buộc phải bỏ đạo, nói rằng họ bị đe dọa. Anh Madhu Nag cũng là một giáo lý viên thường đến thăm làng cho biết tổng giáo phận ở đây đã đưa ra nhiều sáng kiến giúp dân làng ở Roopapali, vì đây là một cộng đồng Công Giáo rất quan trọng. Cách đây khoảng 75 năm, Công Giáo đã có mặt tại khu vực này. Các vị thừa sai đã giúp thực phẩm cho dân làng lúc đó bị đói kém vì hạn hán. Cả hai giáo lý viên nói trên đều cho biết các trẻ em trong vùng này khi ghi tên đi học phải nhận là theo Ấn Giáo để được học bổng của chính phủ.
Mặc dù hầu hết các gia đình Công Giáo trong làng đều bỏ đạo theo Ấn Giáo, nhưng gia đình ông Kumar, một tín đồ Tin Lành phái Mennonite nhất định không bỏ đạo. Ông Kumar đang hành nghề y sĩ trong làng. Ông nói: “Gia đình tôi đã theo đạo Tin Lành hàng mấy thế hệ nay.” Còn con trai ông phát biểu: “Chúng tôi bị khai trừ khỏi các sinh hoạt về xã hội, kinh tế và tôn giáo, nhưng chúng tôi không sợ bị đàn áp vì có Chúa ở với chúng tôi.” Và anh thêm rằng anh đã quyết định không nhận trợ cấp của chính quyền dành cho người Dalit.
Theo tin của CWNNews hôm 15.7.2005, Hội Đồng Toàn Kitô Giáo Ấn Độ đã đệ đơn thỉnh cầu nhà cầm quyền liên bang Ấn Độ hủy bỏ một phán quyết đang gây kinh ngạc trong dư luận của tòa án bang Orissa. Tòa này đã quyết định giảm án cho Dara Singh, một lãnh tụ Ấn Giáo cực đoan, người đã đích thân thiêu sống Mục sư Tin Lành Baptist Graham Stuart Staines và hai con trai của ông. Trước đây Dara Singh đã bị kết án tử hình, nhưng nay tòa đổi lại thành án tù chung thân. Còn 11 đồng phạm của Dara Singh, trước đây đã bị xử tù chung thân, nay tất cả đều được tha bổng!
Mục sư Graham Stuart Staines là một người Úc, 58 tuổi, đã điều hành một trung tâm chăm sóc cho người cùi ở Ấn Độ trong 30 năm, trước khi bị những kẻ cực đoan thiêu sống khi ông và hai con trai đang cắm trại tại một khu vực hẻo lánh ở Orissa trong đêm 22 rạng ngày 23.1.1999.
Một trường hợp khác: Hôm 13.5.2005, cảnh sát tại bang Orissa đã bắt 4 người vì phân phát Kinh Thánh cho cư dân vùng Rajnagar. Cảnh sát đã hành động vì có 300 gia đình Ấn Giáo ở Rajnagar mới theo Kitô giáo. Giới chức tư pháp bang Orissa đã ra lệnh điều tra vụ 300 gia đình mới cải sang Kitô giáo này. Bốn người bị bắt vì phân phát Thánh Kinh đều là các thanh niên tuổi từ 22 đến 29. Trong tháng Giêng vừa qua, những người này cũng đã bị cáo buộc tội truyền giáo vì đã đến 2 trường tiểu học dạy miễn phí trong 5 tháng.
Đảng BJP đang cầm quyền ở bang Orissa đã lên tiếng đe dọa là sẽ có hành động phản kháng nếu cảnh sát không có thái độ đối với những người “vi phạm đạo luật tự do tôn giáo ở Orissa.”
Theo một điều khoản của “Đạo Luật Tự Do Tôn Giáo” của bang Orissa, một người muốn cải đạo phải nộp đơn tại tòa án địa phương, khai rằng việc mình cải đạo là hoàn toàn tự ý. Sau đó tòa sẽ gởi bản tự khai đến cảnh sát để xác minh xem có sự chống đối nào về vấn đề cải đạo không. Nếu không, tòa mới cấp phép cho người ấy được cải đạo. Các nhà truyền giáo cho các điều luật này vi phạm quyền tự do tín ngưỡng đã được hiến pháp Ấn Độ bảo đảm. Do đó, họ đã nộp đơn xin Tòa Án Tối Cao Liên Bang tuyên bố điều khoản đó vi hiến, phải được hủy bỏ. Tuy nhiên, vào tháng 9 năm 2003, Tòa Án Tối Cao Liên Bang đã phán quyết rằng người dân Ấn không có quyền đổi sang một tôn giáo khác và chính phủ có thể áp đặt sự hạn chế cải đạo vì lợi ích công cộng!
Phán quyết nói trên cho thấy sự vi phạm quyền tự do tôn giáo hiện nay ở Ấn Độ là một chính sách của chính quyền liên bang chứ không phải chỉ là một hành động lẻ tẻ của chính quyền địa phương hay là phản ứng của quần chúng.
BẮT NGUỒN TỪ QUÁ KHỨ ĐEN TỐI
Chế độ bất công và khủng bố tôn giáo của Ấn Độ có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử. Khoảng 2000 năm trước công nguyên, người Aryan từ Trung Á tràn vào thượng lưu sống Ấn. Khoảng từ năm 1000 đến năm 600 trước công nguyên, họ lại từ sông Ấn chuyển về lưu vực sông Hằng và hình thành tại đây một trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của nước Ấn Độ. Tôn giáo của họ lúc đầu là Veda, sùng bái các loại sức mạnh tự nhiên và thần thánh hóa những nhân vật anh hùng.
Khoảng năm 1000 trước công nguyên, người Aryan đã hình thành một chế độ đầu tiên ở Ấn, trong đó tôn giáo Veda biến thành Bàlamôn (Brahmana) với ba cương lĩnh lớn: “Veda chí thượng”, “Tế tự vạn năng” và “Bàlamôn chí thượng”. Dựa trên những cơ sở đó, họ chia dân chúng thành 4 đảng cấp (castes) như sau:
- 1.- Đảng cấp Brahmana: gồm các đạo sĩ học hành uyên bác, giới hạnh đoan nghiêm. Những vị này có quyền sáng chế luật pháp, nắm độc quyền về tôn giáo, văn hóa và học thuật của dân tộc.
- 2.- Đảng cấp Ksatrya: Đây là giòng giõi vua chúa. Họ chủ trì việc cai trị và được hưởng quyền thế tập cha truyền con nối. Họ nắm toàn quyền sinh sát đối với nhân dân và xem lãnh thổ cai trị như tư hữu của riêng họ.
- 3.- Đảng cấp Vaisya: gồm các giới công nông thương, không được quyền học hỏi, và có nhiệm vụ cung phụng hai giai cấp giáo quyền và chánh quyền trên.
- 4.- Đảng cấp Soudra: giai cấp nô lệ gồm những tiện dân, chuyên làm các nghề đồ tể, đạo tì, tôi tớ...
Ba giai cấp trên không xem những người thuộc giai cấp dưới là con người, nên đời sống của họ rất cùng khốn, có khi cùng khốn hơn cả thú vật!
Các điều từ 270 đến 272, Chương 8, của Luật Mả-Nổ, tức hiến pháp thành văn của xã hội Ấn Độ thời ấy, quy định rằng Sundra là đảng cấp được trời sinh ra để làm nô lệ. Nếu Sundra kêu tên của giai cấp Bà-la-môn thì bị cắt lưỡi, không tuân thượng lệnh của 3 giai cấp trên sẽ bị nấu dầu đổ vô lỗ tai, v.v.
Ấn giáo hay Hindu được coi là một hình thức cải cách của đạo Bàlamôn, xuất hiện vào thế kỷ thứ IV tại Ấn Độ. Năm 712 người A-rập và Hồi giáo xâm nhập vào hạ lưu sông Ấn và dần dần thống trị Ấn Độ. Nhiều đền thờ của Ấn giáo và Phật giáo bị phá hủy, nhiều tín đồ Ấn giáo bị bắt buộc phải cải sang Hồi giáo. Một số khá đông đẳng cấp tiện dân trong xã hội Ấn đã theo Hồi giáo để thoát khỏi chế độ đẳng cấp của Ấn giáo. Nhưng Hồi giáo không phát triển được ở những khu vực hẻo lánh của đại lục này.
Giữa thế kỷ XIX, Ấn Độ bị biến thành thuộc địa của Anh, nhiều hình thức phong kiến bị phá vở. Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, phong trào tuyên truyền Ấn giáo như là một lý tưởng giải phóng Ấn Độ do Đảng Quốc Đại đề xướng, đã được phát động. Năm 1947 Anh quốc đã phải trao trả độc lập cho Ấn Độ. Ấn giáo được phục hồi.
Năm 1947, sau khi thu hồi độc lập, Ấn Độ đã ban hành Hiến Pháp quy định rằng Ấn Độ là một quốc gia không tôn giáo. Sau đó, chính phủ ban hành một loạt những đạo luật xóa bỏ chế độ đảng cấp và các tập tục hủ lậu của Ấn Độ. Đạo luật 1948 xóa bỏ chế độ đẳng cấp. Đạo luật 1955 cho phép các tiện dân (pariah) được vào các đền thờ và sử dụng ngưồn nước nơi công cộng, v.v.
Hiến Pháp ngày 26.11.1949 của Ấn Độ quy định: “Quốc gia không loại ai ra khỏi sự bình đẳng trước luật pháp và sự bảo vệ bình đẳng của luật pháp trên lãnh thổ Ấn Đô.” (điều 14) và “Quốc gia không kỳ thị bất cứ công dân nào chỉ dựa trên căn bản tôn giáo, sắc dân, đẳng cấp, gióng phái, nơi sinh hay bất cứ thứ gì nơi họ.” (điều 15). Mahatma Gandhi đã gọi những người tiện dân Harijans không đáng đụng đến (untouchables Harijans) là “Con của Thần Vishnu” (Children of the God Hari Vishnu.)
Nhưng trên thực tế, sự kỳ thị chủng tộc, đẳng cấp, giống phái và tôn giáo vẫn còn tồn tại. Mặc dầu đã hơn nữa thế kỷ, tâm trạng bài xích chủng tộc, đảng cấp và tôn giáo vẫn còn trong nhiều giới và các nhà chính trị đã khai thác những yếu tố này để thu hút cử tri, làm cho tình hình trở nên nghiêm trọng thường trực.
Tệ hại hơn nữa, một số nhà tư bản và chính trị đã tìm cách duy trì chế độ đẳng cấp để khai thác sức lao động của những người cùng đinhï làm giàu.
THẢM TRẠNG CỦA XÃ HỘI ĐẢNG CẤP
Dân số Ấn Độ hiện nay có khoảng 1 tỷ 80 triệu người, trong đó có 72% là người Aryan. Về tôn giáo, 81,3% theo đạo Hindu, tức Ấn Giáo; 12% theo Hồi Giáo, 2,3% theo Thiên Chúa Giáo, 1,9% theo đạo Sikh, và chỉ có 0,71% theo Phật Giáo, mặc dầu Ấn Độ là cái nôi của Phật Giáo.
Tài liệu của IndiaOneStop.com cho biết, sau hơn 50 năm dành được độc lập, Ấn Độ vẫn còn có khoảng từ 350 đến 400 triệu người sống dưới mức nghèo khổ, 75% trong số này ở nông thôn. Hơn 40% dân chúng không biết chữ.
Trong khi đó, giới trung lưu phát triển mạnh. Theo tài liệu thống kê năm 1999, giới này có khoảng 300 triệu người: Hạng nhất gồm khoảng 40 triệu người: kiếm được khoảng 600.000 USD mỗi năm. Hạng nhì có khoảng 150 triệu người: kiếm được khoảng 20.000 USD. Hạng ba có khoảng 150 triệu người: có số lợi tức dưới 20.000 USD.
1.- Kỳ thị tôn giáo: Vì bị loại ra khỏi xã hội, những người tiện dân thường đươc gọi là Harijan, Dalit hay untouchable đã theo Hồi Giáo, Thiên Chúa Giáo hay Phật Giáo để được bảo vệ. Tại Ấn Độ hiện nay, số người bị liệt vào loại Dalit hay untouchable có khoảng 26 triệu người, trong đó 2/3 theo Kitô Giáo. Chính quyền đã phản ứng lại bằng cách tuyên bố không trợ cấp cho những tiện dân đã theo Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo.
Hôm 20.8.2005, Giáo Hội Công Giáo Ấn đã lên tiếng mạnh mẽ phản đối một phán quyết của tòa án theo đó những người Dalit theo Ấn Độ Giáo, Phật Giáo hay đạo Sikh được luật pháp bảo vệ, còn những người Dalit thuộc Kitô Giáo hay Hồi Giáo không được luật pháp bảo vệ.
Theo phán quyết này người Dalit theo Ấn Giáo, Phật Giáo hay đạo Sikh được quyền hưởng giáo dục miễn phí, được ưu tiên tuyển dụng vào làm công chức hay làm nghị viên... Đức Hồng Y Telesphore Topo, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Ấn đã nói: "Đây là vấn đề công lý và sự bình đảng cho cho người Dalit theo Kitô Giáo.”
Tình trạng giữa Ấn Giáo và Hồi Giáo còn căng thẳng hơn. Vụ tấn công một đoàn tàu ở Godhra tại bang Gujarat vào tháng 2 năm 2002 là một thí dục điển hình.
Bản tin của hãng thông tấn MISNA ngày 12.5.2005 cho biết Thứ Trưởng Nội Vụ Sriprakash Jaiswal đã báo cáo trước Thượng Viện Tân Đề Li rằng chỉ có 790 người Hồi giáo và 254 người Ấn giáo thiệt mạng, 223 người mất tích cùng và 2.500 người khác bị thương trong sau cuộc tấn công nói trên. Đại diện của chính phủ nói thêm rằng hơn 900 phụ nữ đã phải goá bụa và 600 trẻ em lâm vào cảnh mồ côi. Những người thân trong gia đình của mỗi nạn nhân được bang này bồi thường 150.000 rupi (khoảng 2.700 Euro).
Nhưng Linh mục Cedric Prakash, 53 tuổi, thuộc dòng Tên và là Giám Đốc Trung Tâm “Prashant”, một Trung tâm về Nhân quyền, Công lý và Hoà bình ở Gujarat đã nói: “Chúng tôi xem xét những con số này bằng thái độ hoài nghi vì nhiều lý do khác nhau. Trước hết, cho đến giờ chúng tôi và các tổ chức phi chính phủ biết được con số nạn nhân người Hồi giáo lên đến khoảng 2.500 chứ không phải chỉ 790 như chính phủ đưa ra. Trong khi đó, số nạn nhân người Ấn giáo không tới 100, kể cả những người thiệt mạng trong cuộc tấn công vào ngày 27.2.2002, nhưng chính quyền lại nói trên 200! Cớ những gia đình bị giết hại toàn bộ nhưng tên tuổi của họ không xuất hiện trong danh sách chính thức vì họ là những công nhân nhập cư từ các bang lân cận.”
Hôm 6.3.2005, các Kitô hữu ở bang Rajasthan đã vận động ký một thỉnh nguyện thư yêu cầu chính quyền tiểu bang hủy bỏ một dự luật chống cải đạo vừa mới được đệ trình Quốc Hội. Bang này do Đàng Nhân Dân Ấn Độ (BJB), một Đảng Ấn Giáo cai trị. Bộ trưởng Gia đình Gulab Chand Kataria là người đã đệ trình dự luật nói trên. Ông nói rằng một đạo luật như thế sẽ tước đi các nỗ lực của các nhà truyền giáo cải đạo người dân. Ông còn quả quyết: “Chúng tôi không thể cho phép việc cải đạo được thực hiện ở bang chúng tôi”.
2.- Tình trạng bi đát của các cùng đinh: Ông Rajesh Adiyecha kể lại: Cách đây hơn 3 thập niên, khi còn là một cậu bé, ông thường thấy bầy chó ăn thây người vô thừa nhận. Ngày nay ông đã cống hiến trọn cuộc đời ông để tẩm liệm và đưa những người xấu số này đến nơi an nghỉ cuối cùng.
Ông Rajexh Adiyecha năm nay đã 40 tuổi, đậu cử nhân, thuộc giai cấp Brahmin, một giai cấp cao nhất tại Ấn, nhưng vào năm 1996, ông đã đứng ra lập một tổ chức lấy tên là “Mukti Shraddanjali” (Kính trọng người quá cố), đặt trụ sở tại Raipur, thủ đô của bang Chhattisgarh, cách Tân Đề Li khoảng 1175 cây số về phía Đông Nam. Hàng ngày, ông cùng với hai cộng tác viên đi kiếm xác người vô thừa nhận để chôn hay giúp những gia đình nghèo không đủ tiền để tẩm liệm và chôn cất làm việc này. Ông Adiyecha cho biết thường những xác vô thừa nhận là của những người vô gia cư, các nạn nhân tai nạn hay tự tử mà không ai ngó ngàng tới hay chết trong bệnh viện nhưng thân nhân không có tiền để nhận xác về chôn cất. Sau khi tìm thấy những xác vô thừa nhận trong tỉnh và những vùng lân cận, ông tắm rửa cho họ và cử hành nghi lễ an táng. Trước khi chôn cất, ông cũng ghi chú lại tất cả chi tiết và chụp hình để sau này có thể giúp cảnh sát điều tra nếu cần. Thông thường, chính quyền chỉ cho xe xúc rác đi xúc rồi bỏ xuống hố lấp như những con thú.
Ông Prakash Narayan Avasthi, một viên chức chính quyền sở tại, nói rằng theo tục lệ Ấn Giáo, không ai được đụng đến xác người chết ngoại trừ thân nhân. Người Ấn Giáo muốn đưa xác ra khỏi nhà càng sớm càng tốt. Nhưng ông Sannel Sethia, một chủ tiệm, đã biết ông Adiyecha hơn một thập niên, lại nói: “Thượng Đế đã ban cho ông sức mạnh để nhìn và đụng đến những xác chết. Ông ta không ngại đụng đến những xác chết ngay cả của những người ăn xin. Ông ta coi mọi thân xác như thân xác của người thuộc trong chính gia đình ông.”
Trong vòng 7 năm qua, ông Adiyecha và 2 cộng sự viên đã chôn cất cho hơn 2150 người, kể cả các nạn nhân vụ động đất tại bang Gujarat, miền Tây Ấn xảy ra cách đây 2 năm, nạn nhân vụ bão tại Orissa ở Đông Ấn vào năm 1999, và tai nạn xe lửa vào năm 1997 tại Champa cách Raipur 200 cây số về hướng Bắc. Ông Adiyecha đã không hỏa thiêu như tục lệ Ấn Giáo vì nếu cần thiết cảnh sát có thể khai quật mồ để khám nghiệm.
Sau vụ sóng thần vừa qua, chính phủ Ấn Độ đã từ chối không nhận cứu trợ từ các quốc gia và tổ chức ngoài Ấn, mặc dầu nhiều nạn nhân đang gặp cảnh khốn đốn, nhất là những người Dalit. Chính phủ nói rằng Ấn Độ có đủ khả năng làm việc này. Nhưng trong thực tế, chính phủ Ấn sợ các nhân viên cứu trợ khi đến làm việc từ thiện tại Ấn Độ sẽ thấy rõ bộ mặt thật của Ấn Độ mà họ muốn giấu, và gây ảnh hưởng nơi đẳng cấp cùng khốn.
Nhiều tổ chức cứu trợ đã tố cáo chính phủ Ấn chỉ quan tâm đến các gia đình cấp trên hơn là các gia đình cùng đinh. Trong cuộc họp báo được tổ chức ở Chennai trong ngày 7.1.2005, ông John Dayal, Chủ Tịch Công Đoàn Công Giáo Ấn Độ, đã lên tiếng kêu gọi chính quyền trung ương và cộng đồng quốc tế hãy đặc biết chú ý đến người Dalit. Họ là những người thuộc đẳng cấp bần cùng nhất trong xã hội Ấn Độ. Họ bi giai cấp trên đặt cho cái tên là “những người không đáng đụng tới”. (untouchable). Ông cho biết người Dalit đánh cá thuê cho các chủ tàu thuộc đảng cấp trên. Nhưng sau tai nạn sóng thần, họ gặp trở ngại khi tìm chỗ tạm trú vì đi tới đâu họ cũng bị giai cấp trên xua đuổi và tránh xa. Ông cảnh cáo rằng việc phục hồi nghề đánh cá cho các nạn nhân không được loại trừ bất cứ người nào, đặc biệt các ngư phủ người Dalit trước đây làm công cho các chủ tàu giàu có. Đây là cơ hội giúp cho các ngư phủ này có thuyền, có lưới để tự mưu sinh.
Hôm 12.8.2005 Hội đồng Giám Mục Ấn Độ một lần nữa lên tiếng đòi hỏi chính quyền Ấn Độ phải chấm dứt ngay sự kỳ thị đối với người Dalit theo Kitô Giáo. Đức Hồng Y Telesphore Topo, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Ấn Độ đã nói: "Đây là vấn đề công lý và bình quyền cho cho người Dalit theo Kitô Giáo."
Về vai trò của Thiên Chúa Giáo ở Ấn Độ, Đức Hồng Y Ivan Dias cho biết: "Sự hiện diện của chúng tôi vượt xa những con số. Giáo Hội đảm trách 20% trong khu vực giáo dục, 10% các chương trình giáo dục cho người thất học và các chương trình y tế, 25% các dự án dành cho những người đàn bà goá bụa và trẻ mồ côi, 30% cho người cùi và bệnh nhân AIDS. Chỉ tính riêng trong giáo phận Bombay, Giáo Hội Công có 150 trường trung tiểu học và đại học với 400.000 học sinh".
CHƯA DÙNG “CÂY ROI NHÂN QUYỀN”
Hôm 18.3.2005, Tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Ấn Độ cho biết đã thu hồi thị thực chiếu khán của ông Narendra Modi, Thống Đốc tiểu bang Gujarat ở Ấn Độ, không cho ông ta đến Mỹ, vì ông này bị các tổ chức tranh đấu cho nhân quyền của Ấn Độ tố cáo là đã không làm gì để ngăn chặn những vụ bạo động chống Hồi Giáo trong tiểu bang của ông.
Phát ngôn viên của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ nói rằng thị thực của ông Modi đã bị thu hồi chiếu theo đạo luật cấm các viên chức chính phủ vào nước Mỹ, nếu những người này đã trực tiếp hay gián tiếp vi phạm quyền tự do tôn giáo. Nhưng biện pháp này chỉ nhắm vào cá nhân và quá nhẹ.
Trong những năm gần đây, Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế của Hoa Kỳ đã liệt kê Ấn Độ và Trung Quốc vào danh sách “các quốc gia cần quan tâm”, nhưng Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã rút ra, mặc dầu tuần nào cũng có tin về tấn công tôn giáo ở Ấn Độ hay Trung Quốc. Kinh nghiệm cho thấy, các biện pháp chế tài về vi phạm nhân quyền và quyền tự do giáo thường tùy thuộc vào cán cân mậu dịch và tư thề của nước đối tượng.
Về cán cân mậu dịch: Số thương vụ giữa Hoa Kỳ và Ấn Độc còn quá thấp và số thâm hụt không đáng kể. Năm 2004, Hoa Kỳ bán cho Ấn Độ 6 tỷ 109 USD và mua của Ấn Độ 15 tỷ 572 USD, thâm hụt chỉ 9 tỷ 462 USD.
Về tư thế: Ấn Độ có dân số 1 tỷ 800 triệu người, có tổng sản lượng 3.319 tỷ USD, xuất cảng 69 tỷ USD và nhập cảng 89 tỷ USD mỗi năm, lại ở vị thế quan trọng, đang có triển vọng trở thành một thị trường của Mỹ trong tương lai.
Vì thế, Mỹ không muốn dùng “cây roi nhân quyền” để chơi Ấn Độ, mặc dầu tình trạng nhân quyền và tự do tôn giáo ở đó quá tồi tệ.
Ấn Độ cần có một cuộc cách mạng để san bằng các đẳng cấp, đưa những người nghèo và bị áp bức ra khỏi cảnh cùng khốn. Nhân Lễ Giáng Sinh, cầu mong cho an bình và công lý của đêm Giáng Sinh xuống trên Ấn Độ, Trung Quốc và trên quê hương Việt Nam.