Bảo Vệ Con Người Ngay Từ Lúc Khởi Đầu (Phần II)

Lược Trích Bài Phỏng Vấn Với Vị Phó Chủ Tịch Hàn Lâm Viện Đặc Trách Về Sự Sống

ROME (Zenit.org).- Thông Điệp đầu tiên của Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI nhấn mạnh rằng sự sống đến từ Thiên Chúa chính là một hệ quả trực tiếp về tình yêu thương của Ngài, đó là lời nhận xét của vị Tân Phó Chủ Tịch của Hàn Lâm Viện Giáo Hoàng đặc trách về Sự Sống (Pontifical Academy of Life).

Đức Ông Jean Laffitte, nguyên cựu thứ trưởng (undersecretary) của Hội Đồng Giáo Hoàng đặc trách về Gia Đình, trong bài phỏng vấn với hãng tin Zenit, đã chia sẽ về bức Thông Điệp “Deus Caritas Est” (tức Thiên Chúa Là Tình Yêu) và nó đề cập như thế nào đến mối liên kết giữa tình yêu và sự sống.

Cuộc Sống Là Vô Giá
Hỏi (H): Thưa Đức Ông, ngày hôm nay chúng ta đang sống trong một thế giới mà khoa học gần như có thể cho phép chúng ta đặt hàng ra một đứa trẻ, thì cuộc sống đã trở nên một đối tượng cho sự tiêu thụ. Thì liệu Đức Biển Đức 16 đã đề nghị ra cho chúng ta những gì qua thông điệp đầu tiên của Ngài?

Đức Ông Laffitte (T): Thưa, nếu một người nào đó biết đón nhận cuộc sống con người như là một sự vinh phồn, giàu có, thì người đó không cần phải hỏi về nguồn gốc của sự giàu có này từ đâu mà đến, vì thực nó đã có trước chúng ta.

Do đó, chúng tôi đề cập tới khía cạnh thưởng ban vốn được nối kết rất nhiều về chủ đề của bức thông điệp này, chính là mối quan hệ giữa một mạng sống con người và tác giả về mạng sống của con người. Thiên Chúa, chính là Đấng Tạo Dựng ra mỗi mạng sống, và Ngài cũng đồng thời là suối nguồn của lòng bác ái và yêu thương.

Cũng có một mối quan hệ rất gần gũi giữa sự sống và tình yêu, vì lẽ trên nguyên tắc, cuộc sống tự nó chính là hệ quả về tình yêu thương của Thiên Chúa; đó là một hồng ân, đó là một món quà, nhưng cũng chính vì đó, mà mạng sống con người hội tụ được tất cả mọi chiều kích, mọi ý nghĩa dưới quan điểm của tình yêu. Con người được tạo dựng là để biết yêu thương Đấng đã tạo dựng ra mình.

Con người được tạo dựng để yêu thương những người khác, những người hàng xóm giềng láng của mình; con người phát triển trong tình yêu, con người ý thức tất cả mọi tiềm năng trong tình yêu thương và biết kính phục tất cả mọi tạo dựng, nhằm hiện thể qua tình yêu một kiểu thế quyền thuộc hạ (type of lordship) so với Quyền Uy cao cả của Thiên Chúa.

Thế nhưng tất cả những điều này không thể được thực hiện nếu như không có sự kính trọng về tạo hóa và trong tinh thần phục vụ cho đồng loại, vốn được tác động bởi tình yêu.

Thông Điệp gọi mời chúng ta hãy ý thức rằng Thiên Chúa chính là tình yêu thật sự; cuộc sống đến từ Ngài chính là một hệ quả trực tiếp của tình yêu đó. Điều này hoàn toàn làm đổi thay nhãn quan của chúng ta về sự hiện diện và cùng đích của con người, về những gì được tác động lên chúng ta, lên trên những ý chỉ thâm sâu của chúng ta, và thông qua cách mà chúng ta hành động.

Bức Thông Điệp này lôi kéo sự chú ý của chúng ta vào sự thật rằng sự sống tồn tại vào Thiên Chúa, sự sống chính là sự hiệp thông, và sự sống chính là tình yêu của Thiên Chúa. Trong Thiên Chúa, sự sống và tình yêu cùng đồng nhất với nhau bởi vì tình yêu Thiên Chúa khiến cho con người được hiện diện, đó là một tình yêu dẫn đến sự tồn tại của con người, vốn chưa từng được hiện diện trước đây.

Đó không chỉ là một hành động của thuyết nhân quả vật chất (material causality), mà đó còn là một hành động yêu thương khiến cho người khác cùng hiện diện.

(H): Thưa Đức Ông, làm thế nào mà ý thức về vẻ đẹp của sự sống được tái khám phá một khi nó đã bị đánh mất đi?

(T): Thưa, chúng ta phải nhìn nhận ra những lý do dẫn đến sự đổi thay hay sự mất đi ý nghĩa. Có lúc, có những lý do có liên quan đến những sự chọn lựa về mặt luân lý cá nhân vốn quá đổi hấp dẫn, khiến cho tâm hồn bị tổn thương, làm u tối triển vọng tương lai của người đó về sự sống và không còn cho phép người đó biết nhận ra những đặc tính quan trọng, quý giá và cao cả nữa. Thì sự phân tích về luân lý đó có thể tạo ra hiện trạng thực tế đó. Hơn nữa, cũng có những lý do rõ ràng có liên quan đến sự đau khổ, thách thử, hay sự gánh chịu bất công.

Cũng có những tình huống trong cuộc sống con người mà, không phải vì trách nhiệm từ phía họ, thế nhưng họ vẫn phải diện đối sự khó khăn khách quan để nhìn nhận ra vẻ đẹp của sự sống. Để hiểu được họ, chúng ta phải nhìn nhận rằng những tình huống này tồn tại.

Hơn nữa, cảm nghiệm mờ nhạt (opacity) về vẻ đẹp của sự sống này có thể đến với hầu như tất cả mọi người. Mỗi một người phải diện đối vào một phút giây nào đó trong cuộc đời mình hoặc là qua sự ốm đau của một người mình yêu thương, hay là qua cái chết của một người thân, thì những ảnh hưởng của tật bệnh có thể dấu đi khỏi đôi mắt của họ về vẻ đẹp của sự sống.

Thì trong những tình huống này, cảm nhận về vẻ đẹp của sự sống diễn ra thông qua một quá trình tương tự như tiến trình của đức tin. Chúng ta tin và tôn trọng một cách triệt để vào vẻ đẹp của sự sống, cũng giống như cách mà những người có niềm tin tin vào vẻ đẹp của Thiên Chúa, mặc dầu không nhìn thấy được Ngài. Chúng ta không nhìn thấy được Thiên Chúa, thế nhưng chúng ta biết được vẻ đẹp của Ngài là thật sự.

Rất hiếm khi có một người nào đó chưa từng bao giờ được ánh phản về vẻ đẹp của sự sống. Thế nhưng có những tình huống mà sự biểu hiện về nổi đớn đau, khó chịu của một số căn bệnh nào đó, nhất là những căn bệnh trầm trọng, hay những bất công của con người, trong hoàn cảnh này hay hoàn cảnh khác, đều có thể cướp lấy đi những gì được cho là có tính thu hút, hấp dẫn đang tồn tại trong cuộc sống đời thường.Vấn nạn này không nên được xem xét theo một cách xa lánh, cô độc.

Không ai có thể diện đối với sự khổ đau cá nhân, với tật bệnh, với nổi buồn triền miên của mình, trong sự cô độc được, vì chưng con người không phải là một đơn tử (monad). Con người luôn trong mối quan hệ với nhiều người khác, cho dẫu người đó có xa xôi hay gần gũi.

Không cần phải giả vờ rằng tình yêu của sự sống được đón nhận nơi người khác, thì cũng được đón nhận nơi người đang phải chịu khổ đau, hòng biến cho đời sống của người đó được trở nên dễ dàng hơn, chí ít là cho người đó có được một viển ảnh về sự hiện diện hòng giúp làm giảm đi sự hiểm nghèo, bấp bênh (precariousness) về tình huống riêng của người đó.

Rõ ràng, đây không phải là một nổ lực để yêu cầu người đang gánh chịu sự đau khổ chấp nhận, mà là một lời kêu gọi cho những người đang hạnh phúc và may mắn hơn. Việc tôn trọng sự sống của những ai đang phải chịu đau khổ là một điều kiện cần thiết để giúp cho họ cũng biết cảm nhận được phần nào đó về vẻ đẹp của cuộc sống.

Khi một người đang bị thử thách nhận được sự giúp đỡ, hay sự chú ý yêu thương, thì người đó sẽ không còn xem cuộc sống của mình chính là sự một sự khổ đau nữa, mà trái lại, người đó chỉ đơn giản nghĩ rằng trong cuộc sống của mình có sự khổ đau, nhưng đồng thời đó cũng sẽ là hành động của tình yêu thương mà người đó lãnh nhận.

Điều cần thiết là phải xem xét rằng, trong khía cạnh của cuộc sống, những câu hỏi thường không được trình bày ra theo một cách trừu tượng hóa, mà là một cách rất cụ thể hóa, rằng mỗi một người đều dự phần vào các mối quan hệ hay các tình huống mà người đó có thể thực thi lòng bác ái với những người bà con hàng xóm của mình mà Thông Điệp “Deus Caritas Est” gọi mời chúng ta.

Từ Thông Điệp đó, người đó có thể lượm lặt (gleans) được đâu chính là cốt lõi về sự hiện diện của con người, vì những nhu cầu nền tảng này được khắc thẳm sâu vào trong trái tim của con người; mà trong số đó, trước hết chính là mong ước yêu và được yêu. Cũng có những mong ước nền tảng khác như mong ước được trở nên có ích hay hữu dụng. Tuy nhiên, ước mong được yêu trông có vẽ là mong ước được khắc sâu nhất.

Một trong những đóng góp quan trọng và nguyên thủy của bức Thông Điệp chính là việc cho thấy được tầm quan trọng nền tảng của việc có thể đón nhận tình yêu. Tình yêu không chỉ là một sự chuyển di đơn phương của một người nào đó cho đi, và cho đi chính bản thân mình. Mà còn, có thể đón nhận được một tình yêu khác, đôi lúc vượt trước cả sự cho đi của riêng mình.

Mặc khác, trong mối quan hệ với Thiên Chúa, thì điều này luôn xảy ra. Chúng ta bao giờ cũng nhận được tình yêu thương của Ngài trước hết, Ngài bao giờ cũng yêu thương chúng ta trước hết.

Được trình bày trong bức Thông Điệp chính là ý định cho thấy được một tình yêu thương gấp bội, một sự chuyển di hợp nhất thiết lập nên một sự hiệp thông đích thực, thật sự giữa hai bản thể. Bức Thông Điệp đánh giá cao chiều kích này vốn vẫn thường hay bị bỏ quên trong việc tập trung duy nhất vào những cách tiếp cận sơ sài của tình bác ái, hay tâm linh, vốn chỉ đơn giản cho rằng tình yêu chính là việc cho đi mà thôi.

Tình yêu, theo cách diễn tả đúng đắn và trọn vẹn nhất, cũng chính là sự tiếp nhận và là ưu điểm cần thiết để biết cách nhận và đánh giá cao tình yêu từ phía những người khác vì lẽ đó chính là một món quà của Thiên Chúa, một món quà về ơn huệ đến từ Thiên Chúa.

(Hết).