Đức Gioan Phaolô II làm nổi bật niềm vui được Chúa tha thứ

VATICAN 4/12/2002 (Zenit. Org). - Đây là bản địch bài phát biểu của Đức Gioan Phaolô II trong buổi triều yết chung hôm nay mà Ngài dành cho việc suy niệm về một phần Thánh vịnh 50(61), Miserere

* * *


1. Hằng tuần phụng vụ kinh sáng lập lại Thánh vịnh 50[51], kinh nổi tiếng Miserere. Chúng ta đã suy niệm về một số phần của Thánh vịnh này trong nhiều dịp khác. Bây giờ cũng vậy, chúng ta sẽ suy tư cách riêng về một phần của sự cầu xin tha thiết sư tha thứ: những câu 12-16.

Trước hết, điều có ý nghĩa là ghi nhận rằng trong bản gốc Hy Lạp, tiếng "thần khí" được lập lại ba lần, được kêu cầu với Chúa như là một ân huệ và được lãnh nhận bởi thọ tạo sám hối vì tội lỗi mình: "Đổi mới tinh thần cho con nên chung thủy... Đừng... cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài... Lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con" (cc. 12, 13, 14). Người ta có thể nói rằng--dựa vào ngôn ngữ phụng vụ, đó là một "epclesi, " nghĩa là, một lời kêu xin gấp ba lần Thần Khí, là Ðấng như lúc sáng tạo bay lượn trên mặt nước (x. St 1:2), bây giờ thâm nhập vào linh hồn người tín hữu bằng cách đổ vào một sự sống mới và nâng nó lên khỏi quyền lực tội lỗi để đến bầu trời ân sủng.

2. Các Giáo phụ, trong tiếng "thần khí" mà tác giả Thánh vịnh kêu cầu, thấy sự hiện diện hữu hiệu của Chúa Thánh Thần. Như thế, Thánh Ambroise xác tín rằng chỉ có một Thánh Thần "ầm ỉ tha thiết trong các vị ngôn sứ, được [Chúa Kitô] thổi hơi trong các Tông đồ, được kết gợp với Chúa Cha và Chúa Con trong bí tích rửa tội" (" Lo Spirito Santo" [ChúaThánh Thần], I, 4, 55: SAEMO 16, p. 95).

Cũng một xác tín được các Giáo phụ khác diễn tả, như Didimus Người mù thành Alexandria nước Ai cập và Basil thành Caesaria trong những luận án của các Ngài về Thánh Thần (Didimus the Blind, "Lo Spirito Santo" [ChúaThánh Thần], Rome, 1990, p. 59; Basil thành Caesarea, "Lo Spirito Santo" [Chúa Thánh Thần], IX, 22, Rome, 1993, p. 1171.). Và cũng thánh Ambroise, khi quan sát rằng tác giả Thánh vịnh nói về niềm vui xâm nhập linh hồn một khi linh hồn đã nhận lấy Thần khí quảng đại và đầy quyền phép của Chúa, bình luận: "Sự vui mừng và niềm vui là những hoa quả của Thần khí và Thần khí Cao cả là đấng trên đó, hơn hết, chúng ta được xây dựng. Do đo, bất cứ ai được tái tăng cường với Thần khí Cao cả không bị khuất phục cảnh nô lệ, không làm nô lệ tội lỗi, không không quyết đoán, không đi rông đây đó, không không chắc trong những lựa chọn của mình nhưng, đứng trên tảng đá, người ấy vững, chân họ không do dự" ("Apologia del Profeta David a Teodosio Augusto" [Bài biện hộ của Ngôn sứ David gởi cho Theodosius Augusdtus], 15, I72 SAEMO 5, p. 129).


3. Với ba lần nhắc tới "thần khi, " Thánh vịnh 50[51], sau khi diễn tả trong những câu trước ngục tù đen tối của sự lỗi, mở ra trong vùng sáng của ân sủng. Đó là một điểm quanh quan trọng, giống như một sự sáng tạo mới. Cũng như lúc đầu Chúa thổi thần khí Người trên vật chất và dựng nên con người (x. St 2:7), thì cũng một Thần khí tái sáng tạo (x. Thánhvịnh 50[51]: 12), đổi mới, biến hình và biến đổi người có tội sám hối, ôm nó trở lại (x. c. 13), và làm cho họ trở nên một kẻ tham gia niềm vui cứu rỗi (x. c. 14). Bây giờ con người, được sinh động bởi Thần khí, thực hiện con đường công chính và tình yêu, như nói trong một Thánh vịnh khác: "Điều đẹp ý Ngài xin dạy con thực hiện, bởi Ngài là Thiên Chúa của con. Xin thần khí tốt lành của Chúa dẫn con đi trên miền đất phẳng phiu" (Tv 142: 10).

4. Sau khi kinh nghiệm sự sinh ra nội tâm này, con người cầu nguyện trở nên một chứng nhân, ông hứa với Chúa "đường lối Ngài con sẽ dạy cho người tội lỗi" (Tv 50: 15), ngõ hầu họ, như đứa con phung phí, sẽ có khả năng trở về nhà Cha. Cũng một cách đó, thánh Augustine, sau khi kinh nghiệm những con đường đen tối tội lỗi, bấy giờ cảm thấy sự cần thiết, trong những bản Thú tội của Ngài, minh chứng cho sư tự do và niềm vui cứu rỗi.
Bất cứ ai đã kinh nghiệm tình yêu thương xót của Chúa, đều trở nên một chứng nhân hăng hái, cách riêng trong những khi chạm trán với những kẻ còn mắc trong những lưới tội lỗi. Chúng ta hãy nghĩ tới gương mặt Phaolô, khi bị Chúa Kitô làm mờ mắt trên đường tới Damascus, trở nên một vị thừa sai khó trị của ân sủng thần linh.

5. Một lần cuối, người cầu nguyện nhìn vào quá khứ đen tối của mình và kêu lên với Chúa: "Lạy Thiên Chúa con thờ, là Thiên Chúa cứu độ, xin tha chết cho con [khỏi nợ máu] " (c. 16). "Máu" mà ông nói đây, được giải thích bằng nhiều cách trong Kinh Thánh. Việc ám chỉ, đặt trong miệng vua David, qui chiếu về sự giết Uriah, chồng bà Bathsheba, người đàn bà đối tượng cho sự ham muốn của nhà vua. Trong một nghĩa tổng quát hơn, lời cầu xin chỉ sự ao ước được thanh luyện khỏi sự dữ, khỏi bạo tàn, khỏi sự ghen ghét luôn luôn hiện diện trong lòng con người với sức mạnh đen tối và ác ý. Bây giờ, dầu sao, môi miệng người tín hữu, được thanh luyện khỏi tội lỗi, hát mừng Chúa.


Đoạn Thánh vịnh 50[51], mà chúng ta bình luận hôm nay, kết thúc trên thực tế với sự dấn thân loan báo "sự công chính" của Chúa. Từ ngữ "công chính, " như thường là trường hợp trong ngôn ngữ kinh thánh, không hẳn chỉ hành vi oán phạt của Chúa đối với sự dữ, nhưng, đúng hơn, chỉ sự phục hồi người tôi lỗi, bởi vì Chúa bày tỏ sự công chính của Người bằng cách làm cho người tội lỗi nên công chính (x. Rm 3:26). Chúa không vui gì với cái chết của kẻ dữ, nhưng muốn nó thay đổi những đường lối và sự sống của nó (x. Ez. 18 : 23)

Cuối buổi triều yết chung, Đức Thánh Cha nói tóm tắt như sau bằng tiếng Anh

Anhchị em thân mến,


Thánh vịnh 50, "Miserere, " là một lời cầu xin khẩn thiết xin Chúa thương xót và tha thứ. Tác giả Thánh vịnh, biết sự tội của mình, xin Chúa tạo trong mình một quả tim trong sạch và ban cho mình một tinh thần vững chắc. "Xin đừng cất khỏi lòng con, " ông cầu xin, "thần khí thánh của Ngài "(Tv. 50:13). Giáo hội thấy trong những lời ngôn sứ này mộ sư qui chiếu về ân ban của Chúa Thánh Thần, đấng làm chúng ta khỏi tội, làm chúng ta thành một tạo vật mới, và ban cho chúng ta khả năng sống trong chân lý, công lý và tình yêu. Lời hứa của sư tái sinh thiêng liêng này dẫn tác giả Thánh vịnh đến chỗ vui mừng làm chứng cho sự công chính của Chúa, đấng tỏ lòng thương xót cho kẻ tội lổi và phục hồi cho họ ân sủng, tự do, và sự sống mới.

Tôi chào những phần tử của nhóm Phật giáo Nhật bản Rissho Kosei Kai. Tôi cũng chào những nhóm sinh viên đến từ Denmark và Huê kỳ. Tôi chân thành cầu xin những phép lành niềm vui và bình an của Chúa xuống trên tất cả những người hành hương nói tiếng Anh và những khách tham quan hiện diện frong buổi Triều yết hôm nay.