GIA ĐÌNH KHÔNG CON CÁI
Bản phúc trình cho thấy những đổi thay trong thái độ đối với con trẻ
Piscataway, New Jersey, ngày 22 tháng 7 năm 2006 (Zenith.org)
Sống không cần có con cái đang trở thành một thực tại xã hội thịnh hành đối với một số những người trưởng thành Hoa Kỳ, và con số này ngày càng gia tăng.
Đó là kết luận của bản phúc trình 2006 về “tình trạng liên bang” liên quan đến hôn nhân vừa được nhóm Dự Án Hôn Nhân Quốc Gia công bố tuần qua. Đây là dự án được thực hiện tại Đại Học Tiểu Bang New Jersey.
Cho đến những năm gần đây, với đại đa số, đời sống người trưởng thành phần lớn là dành cho con cái trong nhà. Tuy nhiên, việc kết hôn trễ, muốn có ít con và tuổi thọ cao hơn, cả ba thứ này gộp lại khiến cho từ nay trở đi, phần lớn đời sống người trưởng thành sẽ không còn dành cho con cái trong nhà nữa.
Bản phúc trình, với tựa đề “Đời Sống Không Con Cái,” được Barbara Dafoe Whitehead và David Popenoe là đồng tác giả. Họ ghi nhận rằng nhiều sách báo xuất bản mới đây đều lên tiếng than phiền về các khó khăn khổ cực trong việc nuôi dậy con cái. Nhiều nghiên cứu cho thấy người không làm cha mẹ xem ra hạnh phúc hơn những người làm cha mẹ. Quả thế, ngày càng có nhiều cặp vợ chồng nhìn con cái y như một thứ trở ngại cho hạnh phúc lứa đôi của mình.
Nhưng không có nghĩa là đa số các cặp hôn phối đều từ chối con cái. Tuy vậy, điều cần ghi nhận là: ngày càng có nhiều lo lắng run sợ hơn trước về vai trò làm cha làm mẹ có trách nhiệm. Hẳn nhiên, nuôi dậy con cái là một việc làm chẳng bao giờ dễ dàng cả, thế nhưng có rất nhiều lý do ‘hợp lý hợp tình’ cho thấy tại sao ngày càng có nhiều bậc cha mẹ cảm thấy mình gặp nhiều áp lực hơn.
Vấn đề sợi dây hôn nhân đang suy yếu đi đã làm tăng thêm những khó khăn trong việc sinh con đẻ cái. Phụ nữ nào chọn việc sống chung (không hôn phối) sẽ triển hạn việc có con mãi cho đến khi nào cảm nghiệm được chút gì chắc chắn hơn về tương lai mối quan hệ của mình. Tuy thế, nếu chờ đợi lâu quá, nguy cơ sẽ là không bao giờ có con được nữa. Hôn nhân thiếu hạnh phúc cũng là một nguồn bất ổn khác. Cặp vợ chồng nào quá lo lắng về ly dị thì hầu chắc sẽ không muốn có con.
Các Gia Đình đang thay đổi
Dựa trên các phúc trình của cơ quan Kiểm Tra Dân Số, Whitehead và Popenoe cho thấy cơ cấu gia đình đã thay đổi như thế nào.
Vào năm 1970, tuổi kết hôn trung bình của phụ nữ là duới 21 tuổi. Ngày nay tuổi kết hôn lần đầu tăng lên gần 26. Chị em nào có bằng 4 năm đại học thì càng kết hôn trễ hơn.
Vào năm 1970, 73% phụ nữ, tuổi từ 25—29, đã bắt đầu phải nuôi nấng chăm sóc con cái và có ít nhất là một đứa con rồi. Vào năm 2000, chỉ số này rớt xuống 48%. Với đàn ông trạc tuổi ấy vào năm 1970, 57.3% sống với con cái trong nhà. Năm 2000, con số này tụt xuống 28.8%.
Vào năm 1960, 71% phụ nữ đã có con đầu lòng trong vòng ba năm đầu sau khi kết hôn. Đến năm 1990, con số này chỉ còn một nửa, nghĩa là 37%. Như vậy có nghĩa là, sau khi kết hôn, các đôi vợ chồng có được nhiều thời gian hơn để ‘tận hưởng kinh nghiệm’ về những tháng năm không bận rộn con cái.
Vào năm 1970, 27.4% phụ nữ và 39.5% đàn ông, lứa tuổi 50-54, có ít nhất là một đứa con tuổi vị thành niên sống trong nhà. Đến năm 2000, con số này tụt xuống 15.4% cho phụ nữ, và 24.7% cho đàn ông.
Thêm vào đó, ngày càng có nhiều phụ nữ không con. Vào năm 2004, hầu như cứ 5 người thì có một người không con vào lứa tuổi 40, trong khi vào năm 1976, cứ 10 người thì mới có một người như thế.
Tỉ lệ gia đình có con từ năm 1960 đã giảm đi từ một nửa xuống một phần ba như thấy hiện nay: đây là tỉ lệ thấp nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.
Như vậy, nói chung, một vài thập niên trước đây, đời sống trước khi có con cái thì tương đối ngắn, giữa thời gian nghỉ học và khởi sự bước vào hôn nhân và đời sống gia đình thì chỉ là một giai đoạn ngắn. Đời sống sau khi có con cũng đã giảm thiểu, chỉ còn lại một thời gian vắn vỏi giữa giai đoạn nghỉ hưu và bắt đầu tuổi già.
Kém vui đi
Nền văn hóa hiện thời đã nhanh chóng phản ảnh những đổi thay trong đời sống gia đình, bản phúc trình cho biết như thế. Ngày càng cho thấy giai đoạn phải nuôi dậy con cái thì không thoải mái bằng những năm trước đó và sau đó.
Đời sống trưởng thành không con cái đang được coi là có ý nghĩa và mục đích tích cực, đầy niềm vui và tự do thoải mái. Trái lại, có con cái rồi thì chỉ còn áp lực và trách nhiệm mà thôi.
Nói chung, nếp sống không con cái sẽ mang đặc điểm là tập trung vào chính mình. Bản phúc trình cho thấy rằng: “Dù già hay trẻ mà không con cái thì cũng chỉ nhằm để ‘lo lắng cho bản thân’ mà thôi.”
Những năm tháng phải nuôi dậy con cái thì trái ngược hẳn. Làm cha mẹ có nghĩa là tập trung vào những kẻ lệ thuộc vào mình, để rồi đành phải dẹp đi các nhu cầu của mình hầu lo cho những đòi hỏi của con cái.
Như để bù trừ, nền văn hoá truyền thống thường đề cao công việc và hy sinh của bậc làm cha mẹ, nhưng nay thì đã thay đổi rồi. Hình ảnh cha mẹ càng ngày càng trở thành tồi tệ và tiêu cực hơn. Thành kiến mới về cha mẹ thì thế này: nếu không phải là như những kẻ quá mê thể thao để rồi ngông cuồng hò hét la rầy lũ trẻ, thì cũng chỉ là những người giả điếc làm ngơ trước những vấn đề mà lũ trẻ ngỗ nghịch của mình đã gây ra cho người khác ngoài chỗ công cộng.
Hình ảnh mới nhất là “cha mẹ kiểu máy bay trực thăng,” nghĩa là cứ bay xà xà trên đầu lũ trẻ, rồi lâu lâu hạ cánh xuống như để cấp cứu cho chúng thoát khỏi những hậu quả tiêu cực từ những hành vi bết bát của chúng.
Các chương trình truyền hình từ lâu đã thường diễu cợt quý vị làm cha trong gia đình, bản phúc trình nói thế. Mới đây, đến lượt các bà mẹ cũng bị coi là không thích hợp, thiếu khả năng đảm nhận trách nhiệm của mình nếu không có sự trợ giúp của người vú em. Các bà mẹ còn bị coi là quá dễ dãi hoặc hay sao lãng.
Trái ngược hẳn lại, thời gian gần đây, tại Hoa Kỳ, một số những ‘sô’ truyền hình, tỉ như “Friends” và “Sex and the City” đều cho thấy nếp sống huy hoàng của giới trẻ độc thân thành thị.
Thành Kiến đối với Trẻ Nhỏ
Bản phúc trình đặt câu hỏi: “Đây là điềm báo gì cho tương lai?” Trước hết, về mặt chính trị, người ta sẽ dần dần ít ủng hộ gia đình. Kỳ bầu cử tổng thống vừa qua, bậc làm cha mẹ chỉ chiếm được hơn kém 40% cử tri đi bầu. Ít đi bầu có nghĩa là ít ủng hộ ngân qũy học đường và sinh hoạt giới trẻ. Đâu đó đã có các cộng đồng đang tìm cách hạ thấp thuế tài sản bằng cách hạn chế việc xây cất các căn nhà đơn, vừa với túi tiền của người dân.
Về mặt văn hoá, thành kiến đối với trẻ em đang tăng dần. Những trò giải trí cho người lớn--cờ bạc, sách báo khiêu dâm và dục tính—đang trở thành phương tiện hấp dẫn, nhanh chóng biến thành món hàng béo bở đẩy mạnh kinh tế.
Trái lại, trở thành một đấng làm cha làm mẹ có trách nhiệm lại đang bị hạ giá tàn nhẫn, bản phúc trình còn cho biết như thế. Quả vậy, ngày càng có nhiều người cho rằng công việc của một người mẹ thì không đáng cho một phụ nữ có ăn học phải phí bỏ thời giờ và tài năng để chúi đầu vào. Thế là những cái thường được coi như các giá trị lâu bền của việc nuôi dậy con cái, tỉ như hy sinh, nhẫn nhục, đáng tin cậy và trưởng thành, sẽ càng ít được chú ý đến.
Bản phúc trình kết luận rằng: “Thật là khó để nuôi dậy con trẻ trong một xã hội được tổ chức chỉ để hỗ trợ cho công tác xã hội thiết yếu. Thật khó khăn làm sao nếu xã hội tỏ ra dửng dưng, hay tệ hơn nữa, tỏ ra thù nghịch với những ai đang ra sức chăm lo cho thế hệ tương lai.”
Mới đây, trong bài giảng kết thúc Hội Nghị Thế Giới về Gia Đình tổ chức tại Valencia, Tây Ban Nha, ngày mùng 9 tháng 7 năm 2006, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã giải thích rằng: “Gia đình, vốn được xây dựng trên hôn nhân bất khả phân ly giữa một người nam và một người nữ, chính là nơi chốn nào mà người nam và người nữ có thể được sinh ra với đầy phẩm giá làm người, cũng như được lớn lên và phát triển một cách toàn diện.”
Ngài còn thêm rằng: “Tình yêu tươi tắn mà cha mẹ đã dành riêng khi đón nhận chúng ta được sinh ra đời, tình yêu đó đã cùng đi theo những bước chân đầu đời của chúng ta, chính tình yêu ấy đúng là một dấu chỉ bí tích và sự nối dài tình yêu lân tuất của Thiên Chúa, là ngọn nguồn đời ta. Chính cái kinh nghiệm được Thiên Chúa và cha mẹ đón nhận và yêu thương, vốn đã luôn luôn là cái nền tảng vững chắc cho sự triển nở nhân bản và sự phát huy con người đích thực, cái kinh nghiệm ấy đang giúp ta trở nên trưởng thành và chín chắn trên bước đường dẫn đến chân lý và tình yêu, cũng như vượt qua chính mình để bước vào niềm hiệp thông với tha nhân và với Thiên Chúa.” Tiếc thay, cái nền tảng ấy càng ngày càng bị mai một đi trong xã hội hôm nay.