Trong những năm gần đây, nhiều vụ khủng bố đẫm máu đã xẩy ra tại Âu Châu và Hoa Kỳ. Tất cả những vụ ấy đều có hai điểm chung: Một là do các thành phần Hồi Giáo quá khích chủ xướng dưới chiêu bài thánh chiến. Hai là các thành phần khủng bố đều là người Hồi Giáo cư ngụ tại các nước Tây Âu hoặc có sào huyệt đặt tại Tây Âu. Vụ mới nhất, 24 người Hồi Giáo ở Anh bị bắt vì có âm mưu phá nổ các chuyến bay từ Anh Quốc sang Hoa Kỳ.
Trước hai thực tế này, các chuyên gia về an ninh taị Hoa Kỳ thường đặt ra 2 câu hỏi: Tai sao các thành phần khủng bố Hồi Giáo nhắm vào Âu Châu và Hoa Kỳ lại là cư dân Âu Châu, không phải là cư dân Hồi Giáo ở Hoa Kỳ?
Từ câu hỏi trên dẫn đến một câu hỏi khác: Cộng đồng người Hồi Giáo ở Hoa Kỳ có gì khác biệt với cộng đồng người Hồi Giáo ở Tây Âu không?
Để trả lời cho những vấn nạn này, giáo sư Peter Skerry, dậy môn chính trị học tại Boston College, đồng thời là thành viên của viện nghiên cứu Brooking, đã đưa ra câu trả lời bằng cách so sánh hai cộng đồng Hồi Giáo. Một tại Tây Âu và một tại Hoa Kỳ.
Theo quan điểm của giáo sư Skerry, cộng đồng người Hồi Giáo ở Tây Âu mà cụ thể là ở Pháp, Đức, Anh, và Hoà Lan khác biệt rất nhiều so với cộng đồng người Hồi Giáo tại Hoa Kỳ. Giáo sư liệt kê những điểm khác biệt sau đây:
Thứ nhất về dân số người Hồi Giáo: Theo ước lượng của các giới chức có thẩm quyền tại Hoa Kỳ, người Hồi Giáo chỉ có từ 2 đến 3 triệu người – nghĩa là dưới 1% toàn bộ dân số Hoa Kỳ.
Trái lại, tại Pháp người Hồi Giáo chiếm đến 8% hay 9% dân số. Ở Hoà Lan là 5.6%; Đức 3.6%; Anh dưới 3%.
Thứ hai: tại Âu Châu phần lớn người Hồi Giáo ở tập trung trong những khu riêng biệt rõ rệt. Ví dụ ở Bỉ, nhiều phụ nữ Hồi Giáo và trẻ con ăn xin trên các đường phố hay trên các trạm xe điện ngầm. Nhiều khu đường chung quanh đại lộ Stalingrad có những quán cá phê, các cửa tiệm là chỗ nhiều đàn ông Hồi Giáo la cà ở đó.
Tại Mỹ, ít có hiện tượng như trên xảy ra, ngoại trừ một vùng nhỏ ở Detroit và vùng phụ cận của Dearborn, tiểu bang Michigan. Nhiều người Hồi Giáo ở Mỹ là những người có nền học vấn cao, như tốt nghiệp đại học, hoăc có nghề nghiệp chuyên môn. Họ cư ngụ tại những khu vực ở ngoại ô của thành phố. Điều đó chứng tỏ họ là người khá giả vì tại Hoa Kỳ, những dân giàu có mới ở vùng ngoại ô.
Thứ ba: tại Âu Châu, các người Hồi Giáo thường đến từ một quốc gia, họ có sự thống nhất, và có nhiều bất mãn với xã hội.
Trái lại, tại Mỹ, công đồng người Hồi Giáo ít sinh sự bất mãn vì các cộng đồng ở đây rất khác biệt, họ đến từ nhiều quốc gia trên thế giới, sống tản mát tại nhiều tiểu bang, nói nhiều ngôn ngữ khác nhau, và tín ngưỡng Hồi Giáo của họ cũng chia thành nhiều chi ngành. Do vậy, không có nhóm nào là mạnh tuyệt đối, thống trị được các nhóm khác. Nhóm nào cũng cố gắng thích ứng với dân chúng địa phương của mình.
Thứ tư: Điều khác biệt rất quan trọng về Hồi Giáo ở Hoa Kỳ và Tây Âu là
Hồi Giáo ở Hoa Kỳ được hưởng một căn bản tự do tôn giáo. Về phương diện công cộng, tôn giáo ở Hoa Kỳ được tôn trọng hơn ở Âu Châu. Ví dụ các nhà làm luật và những ngươi tranh đấu cho luật di trú phản đối chuyện gọi một người theo kiểu như Mỹ gốc Mễ, (Mexican- American), Mỹ gốc Việt (Vietnamese – American), Mỹ gốc Nhật, Mỹ gốc Tầu. Gọi như vậy họ cho là kỳ thị, không gây được sự đoàn kết quốc gia. Về phương diện tôn giáo, tại Hoa Kỳ dù người Tin Lành, người Công Giáo, người Do Thái Giáo có bất đồng với nhau về tôn giáo, nhưng đó không phải là vân đề nghiêm trọng đối với họ. Tại Hoa Kỳ, ngày nay nếu người Hồi Giáo chưa được công luận sẵn sàng chấp nhận thì điều đó không phải vì họ là người Hồi Giáo hay là vì niềm tin Hồi Giáo.
Trái lại, tại Âu Châu, người Hồi Giáo, bị gạt ra bên lề vì tín ngưỡng của họ đe dọa đến những giá trị trần thế của người Tây Âu. Ví dụ tại Ý là nước có đa số người Công Giáo, nhưng đã có những người Hồi Giáo đòi hạ bệ các tượng hình thánh giá treo trong trường học và bệnh viện. Ở Mỹ rất hoạ hiếm có chuyện cãi vã về khăn trùm đầu của phụ nữ Hồi Giáo. Ngược lại ở Pháp, chính quyền không cho nữ sinh Hồi Giáo được đội khăn khi đi học ở trường công.
Tại Hoa Kỳ nhờ có tự do tôn giáo nên người Hồi Giáo có đến 250 ngôi trường của riêng họ, được mở ra để dậy con em người Hồi Giáo. Trong khi đó, tại Anh quốc, số người Hồi Giáo ngang bằng với Hoa Kỳ nhưng số trường chỉ có vào khoảng trên 150 trường. Tại Pháp số trường dành riêng cho người Hồi Giáo rất họa hiếm.
Thứ năm, về phương diện chính trị, tại Hoa Kỳ người ta thấy rõ các nhóm chính trị được tự do hoạt động. Ví dụ nếu có dịp bước vào văn phòng có tên là Tổ Chức Hồi Giáo Bắc Mỹ Châu ở ngoại ô thành phố Indianapolis, tiểu bang Indiana, người ta sẽ thấy rất nhiều sách vở Hồi Giáo đang được chuẩn bị gửi đi cho các độc giả. Tuy nhiên, người ta cũng thấy tại đó những tài liệu hướng dẫn của sở Di Trú. Người Hồi Giáo ở Mỹ được thiết lập và tự điều hành các cơ sở tôn giáo và xã hội của mình. Việc đó đã giúp họ có chỗ đứng trong xã hội, đồng thời những cơ chế đó dậy họ bài học về tự quản và dân chủ.
Lẽ dĩ nhiên nhiều người Hoa Kỳ hiện nay không thích những cảnh tượng được trưng bày công khai nơi các cơ sở của người Hồi Giáo. Ví dụ các trường học của người Hồi Giáo ở Hoa Kỳ treo các bản đồ vùng Trung Đông trong lớp học, nhưng trên tấm bản đồ đó lại không có tên quốc gia Do Thái. Họ được công khai biểu lộ mối thiện cảm với các nhóm Hamas, Hizballah là các nhóm mà tây phương và chính Hoa Kỳ coi là lực lượng khủng bố. Và sau vụ khủng bố 9/11 ở New York, người Hồi Giáo thường than phiền là nhân viên chính phủ Hoa Kỳ đã nhắm vào người Hồi Giáo một cách quá đáng. Tất cả những chuyện đó, không làm cho cộng đồng Hồi Giáo ở Mỹ biến thành một cộng đồng riêng biệt, mà khuynh hướng của người Mỹ là muốn người Hồi Giáo cũng hoà nhập vào dòng chung của xã hội Hoa Kỳ.
Trong lịch sử Hoa Kỳ đã từng có những cuộc tranh đấu đòi nhân quyền cho các sác dân thiểu số như các cuộc tranh đấu của người Mỹ gốc Phi Châu, người Mỹ gốc Nhật, người Mỹ gốc Mễ Tây Cơ. Qua những cuộc tranh đấu này, người Hồi Giáo rút ra được một bài học. Họ thường nói: “Đó là cách xã hội Mỹ đối xử với các nhóm thiểu số. Các nhóm ấy đã tranh đấu thắng lợi thì người Hồi Giáo cũng sẽ vượt qua được những trở ngại đó”.
Nói khác đi, các sắc dân thiểu số nói chung, người Hồi Giáo ở Mỹ ở Mỹ nói riêng đã tranh đấu thành công, buộc chính quyền không đưa ra những chính sách, luật lệ bất công đối với họ
Trước hai thực tế này, các chuyên gia về an ninh taị Hoa Kỳ thường đặt ra 2 câu hỏi: Tai sao các thành phần khủng bố Hồi Giáo nhắm vào Âu Châu và Hoa Kỳ lại là cư dân Âu Châu, không phải là cư dân Hồi Giáo ở Hoa Kỳ?
Từ câu hỏi trên dẫn đến một câu hỏi khác: Cộng đồng người Hồi Giáo ở Hoa Kỳ có gì khác biệt với cộng đồng người Hồi Giáo ở Tây Âu không?
Để trả lời cho những vấn nạn này, giáo sư Peter Skerry, dậy môn chính trị học tại Boston College, đồng thời là thành viên của viện nghiên cứu Brooking, đã đưa ra câu trả lời bằng cách so sánh hai cộng đồng Hồi Giáo. Một tại Tây Âu và một tại Hoa Kỳ.
![]() |
| Hồi giáo ở Hoa Kỳ |
Thứ nhất về dân số người Hồi Giáo: Theo ước lượng của các giới chức có thẩm quyền tại Hoa Kỳ, người Hồi Giáo chỉ có từ 2 đến 3 triệu người – nghĩa là dưới 1% toàn bộ dân số Hoa Kỳ.
Trái lại, tại Pháp người Hồi Giáo chiếm đến 8% hay 9% dân số. Ở Hoà Lan là 5.6%; Đức 3.6%; Anh dưới 3%.
Thứ hai: tại Âu Châu phần lớn người Hồi Giáo ở tập trung trong những khu riêng biệt rõ rệt. Ví dụ ở Bỉ, nhiều phụ nữ Hồi Giáo và trẻ con ăn xin trên các đường phố hay trên các trạm xe điện ngầm. Nhiều khu đường chung quanh đại lộ Stalingrad có những quán cá phê, các cửa tiệm là chỗ nhiều đàn ông Hồi Giáo la cà ở đó.
Tại Mỹ, ít có hiện tượng như trên xảy ra, ngoại trừ một vùng nhỏ ở Detroit và vùng phụ cận của Dearborn, tiểu bang Michigan. Nhiều người Hồi Giáo ở Mỹ là những người có nền học vấn cao, như tốt nghiệp đại học, hoăc có nghề nghiệp chuyên môn. Họ cư ngụ tại những khu vực ở ngoại ô của thành phố. Điều đó chứng tỏ họ là người khá giả vì tại Hoa Kỳ, những dân giàu có mới ở vùng ngoại ô.
Thứ ba: tại Âu Châu, các người Hồi Giáo thường đến từ một quốc gia, họ có sự thống nhất, và có nhiều bất mãn với xã hội.
Trái lại, tại Mỹ, công đồng người Hồi Giáo ít sinh sự bất mãn vì các cộng đồng ở đây rất khác biệt, họ đến từ nhiều quốc gia trên thế giới, sống tản mát tại nhiều tiểu bang, nói nhiều ngôn ngữ khác nhau, và tín ngưỡng Hồi Giáo của họ cũng chia thành nhiều chi ngành. Do vậy, không có nhóm nào là mạnh tuyệt đối, thống trị được các nhóm khác. Nhóm nào cũng cố gắng thích ứng với dân chúng địa phương của mình.
Thứ tư: Điều khác biệt rất quan trọng về Hồi Giáo ở Hoa Kỳ và Tây Âu là
Hồi Giáo ở Hoa Kỳ được hưởng một căn bản tự do tôn giáo. Về phương diện công cộng, tôn giáo ở Hoa Kỳ được tôn trọng hơn ở Âu Châu. Ví dụ các nhà làm luật và những ngươi tranh đấu cho luật di trú phản đối chuyện gọi một người theo kiểu như Mỹ gốc Mễ, (Mexican- American), Mỹ gốc Việt (Vietnamese – American), Mỹ gốc Nhật, Mỹ gốc Tầu. Gọi như vậy họ cho là kỳ thị, không gây được sự đoàn kết quốc gia. Về phương diện tôn giáo, tại Hoa Kỳ dù người Tin Lành, người Công Giáo, người Do Thái Giáo có bất đồng với nhau về tôn giáo, nhưng đó không phải là vân đề nghiêm trọng đối với họ. Tại Hoa Kỳ, ngày nay nếu người Hồi Giáo chưa được công luận sẵn sàng chấp nhận thì điều đó không phải vì họ là người Hồi Giáo hay là vì niềm tin Hồi Giáo.
![]() |
| Đò hỏi của người Hồi Giáo ở Tây Âu |
Tại Hoa Kỳ nhờ có tự do tôn giáo nên người Hồi Giáo có đến 250 ngôi trường của riêng họ, được mở ra để dậy con em người Hồi Giáo. Trong khi đó, tại Anh quốc, số người Hồi Giáo ngang bằng với Hoa Kỳ nhưng số trường chỉ có vào khoảng trên 150 trường. Tại Pháp số trường dành riêng cho người Hồi Giáo rất họa hiếm.
Thứ năm, về phương diện chính trị, tại Hoa Kỳ người ta thấy rõ các nhóm chính trị được tự do hoạt động. Ví dụ nếu có dịp bước vào văn phòng có tên là Tổ Chức Hồi Giáo Bắc Mỹ Châu ở ngoại ô thành phố Indianapolis, tiểu bang Indiana, người ta sẽ thấy rất nhiều sách vở Hồi Giáo đang được chuẩn bị gửi đi cho các độc giả. Tuy nhiên, người ta cũng thấy tại đó những tài liệu hướng dẫn của sở Di Trú. Người Hồi Giáo ở Mỹ được thiết lập và tự điều hành các cơ sở tôn giáo và xã hội của mình. Việc đó đã giúp họ có chỗ đứng trong xã hội, đồng thời những cơ chế đó dậy họ bài học về tự quản và dân chủ.
Lẽ dĩ nhiên nhiều người Hoa Kỳ hiện nay không thích những cảnh tượng được trưng bày công khai nơi các cơ sở của người Hồi Giáo. Ví dụ các trường học của người Hồi Giáo ở Hoa Kỳ treo các bản đồ vùng Trung Đông trong lớp học, nhưng trên tấm bản đồ đó lại không có tên quốc gia Do Thái. Họ được công khai biểu lộ mối thiện cảm với các nhóm Hamas, Hizballah là các nhóm mà tây phương và chính Hoa Kỳ coi là lực lượng khủng bố. Và sau vụ khủng bố 9/11 ở New York, người Hồi Giáo thường than phiền là nhân viên chính phủ Hoa Kỳ đã nhắm vào người Hồi Giáo một cách quá đáng. Tất cả những chuyện đó, không làm cho cộng đồng Hồi Giáo ở Mỹ biến thành một cộng đồng riêng biệt, mà khuynh hướng của người Mỹ là muốn người Hồi Giáo cũng hoà nhập vào dòng chung của xã hội Hoa Kỳ.
Trong lịch sử Hoa Kỳ đã từng có những cuộc tranh đấu đòi nhân quyền cho các sác dân thiểu số như các cuộc tranh đấu của người Mỹ gốc Phi Châu, người Mỹ gốc Nhật, người Mỹ gốc Mễ Tây Cơ. Qua những cuộc tranh đấu này, người Hồi Giáo rút ra được một bài học. Họ thường nói: “Đó là cách xã hội Mỹ đối xử với các nhóm thiểu số. Các nhóm ấy đã tranh đấu thắng lợi thì người Hồi Giáo cũng sẽ vượt qua được những trở ngại đó”.
Nói khác đi, các sắc dân thiểu số nói chung, người Hồi Giáo ở Mỹ ở Mỹ nói riêng đã tranh đấu thành công, buộc chính quyền không đưa ra những chính sách, luật lệ bất công đối với họ

