Sự thật của đức tin và sự thật của lí trí ?
Sau đây là bài thuyết trình mùa chay tại Nhà Thờ Chính Tòa Ðức Bà Paris Chúa Nhật 25 tháng 2 năm 2007 của cha Michel Fédou, được Văn Hào chuyển ngữ
«Sự thật là gì?» Nếu câu hỏi này xưa kia diễn tả sự do dự của Pilate về căn tính của Ðức Giê Su, thì nó cũng còn được đặt ra một cách khác cho chính những người ki tô hữu. Có nên trả lời câu hỏi này bằng cách nhận lấy đối với ki tô giáo điểm tựa của lí trí con người, nó sẽ có khả năng tạo thêm sự tin tưởng cho những giảng dạy về đức tin và đôi khi nó còn có thể cho phép lập ra những giảng dạy về đức tin ? Trái lại có nên nhấn mạnh sự bất lực của lí trí và áp đặt lên nó những tài nguyên riêng của đức tin, chỉ cần đức tin thôi cũng có khả năng dẫn đến sự thật cuối cùng ? Một điều chắc chắn là thế này : ki tô giáo đã trực tiếp bị đối chiếu, trong dòng hai nghìn năm của lịch sử, với vấn đề về những quan hệ giữa đức tin và lí trí. Giờ đây chúng ta hãy nhìn nhận vấn đề đó không phải chỉ là một sự thật ngẫu nhiên, chỉ đơn thuần liên quan đến sự kế thừa ngôi lời (logos)hy lạp và những phát triển của lý tính ở Tây Phương : đúng là những sự ngẫu nhiên trong lịch sử đã có phần của chúng, nhưng lịch sử giúp hiểu rằng đức tin ki tô giáo bao hàm bởi chính nó một quan hệ nào đó với lí trí. Còn nữa có phải nói rõ điều mà như từ ấy bao hàm đến. Trong một thế giới mà thần tượng lí trí cũng đang là đối tượng của sự hoài nghi và cũng trong thế giới đó đức tin ki tô giáo, về phần nó, thường tỏ ra mỏng dòn, thì việc cố tìm một mối hòa giải trừu tượng giữa lí trí và đức tin là không đủ, nhưng quan trọng là cần tự hỏi đức tin và lí trí phải là gì để cùng bước đi với nhau về với sự thật hoàn toàn. Cho rằng đức tin ki tô giáo mang một mối quan hệ nào đó với lí trí, điều đó trước hết được ghi vào trong chính những nguồn gốc của ki tô giáo. Phải nói đó là mối quan hệ phức tạp và nghịch lí, nếu chúng ta nhận định điều này theo những bản văn Tân Ước. Một mặt, ki tô giáo xuất hiện như người mang một lời nói của sự thật phải được loan báo giữa « muôn nước » cũng như giữa các hội đường do thái. Tông Ðồ Phao Lồ không ngần ngại loàn báo lời sự thật đó cho Aréopage thành Athènes, và thư thứ nhất của thánh Phêrô yêu cầu những người nhận thư sẵn sàng « giải thích » niềm hy vọng ngự nơi họ (1 Pr 3, 15); đức tin không đối lập với nhận thức, đúng hơn đức tin là « một phương tiện nhận biết những thực tại mà chúng ta không thấy » (Dt 11, 1). Thế nhưng mặt khác, Phao Lồ nhấn mạnh rằng nhận thức không chỉ là có hạn, mà còn bị sai lệch do tội lỗi : con người « bị lầm lạc trong những suy luận viễn vông của họ » (Rm 1, 21), thế gian đã không biết nhận ra Thiên Chúa bằng con đường không ngoan, và nơi đâu người Hy Lạp tìm kiếm sự khôn ngoan, « còn chúng tôi, chúng tôi rao giảng một Ðấng Messia bị đóng đinh » là sự « điên rồ » cho muôn dân (1 Cr 1, 23).
Ngay những thế kỷ đầu của lịch sử ki tô giáo, có cái cám dỗ lớn muốn ưu tiên chiều kích nghịch lí mà làm hại đến chiều kích khác, hoặc là ki tô giáo xuất hiện trước tiên như tổng hợp những nhận thức, hoặc là ngược lại chúng ta phủ nhận đối tượng của đức tin mọi lí tính (theo điều do công thức nổi tiếng gợi nên « credo, quia absurdum)(1). Nhưng các tiếng nói có tầm ảnh hưởng lớn của Truyền Thống phải mang đến những chỉnh sửa cần thiết. ở Phương Ðông thuộc ngôn ngữ hy lạp, Origène cho rằng ki tô giáo là một nhận thức hợp lí về sự thật- nhưng đối với ông cái nhận thức đó không thể tách rời đức tin, đúng hơn nhận thức đó là sự hoàn thiện đầy đủ của đức tin. Ngược lại, ở Phương Ðông thuộc ngôn ngữ la-tinh, Âu Tinh nhấn mạnh trước hết rằng đức tin là điều kiện tiên quyết của nhận thức (theo lời trong sách Ngôn sứ Isaia 7, 9 : « nêú không tin, các ngươi sẽ không hiểu được »), nhưng Âu Tinh cũng đề cao không kém vai trò của lí tính của đức tin, đức tin kêu gọi việc làm trí tuệ con người. Việc làm của trí tuệ áp dụng trước tiên theo nội dung của đức tin. (ea quae credumtur), giờ đây phân biệt với hành vi đức tin (fides qua creduntur). Như thế nghịch lí được duy trì.
Ở thời Trung Ðại, việc làm của trí tuệ phân biệt với đức tin cũng càng hiển nhiên khi thánh Anselme đề nghị lí tưởng về một đức tin đi tìm năng lực nhận thức (fides quaerens intelectum) : lí trí được tôn thờ trong khả năng nó nhận biết sự thật, nhưng điều đó chỉ có thể là bởi vì lí trí trước hết đã được chữa lành nhờ đức tin và bởi vì lí trí thực hành dưới sự dẫn dắt của đức tin. Thế nhưng, yêu cầu của việc truyền giáo trong sự bàn luận với dân do thái, dân hồi giáo và các triết gia vô thần không gợi lên việc biện luận với họ trên cùng một đấu trường chung là lí trí đó sao, cho đến một điểm nào đó sẽ có đủ khả năng nhận biết sự thật vượt lên trên cả mọi tuyên xưng tôn giáo ? Ðó là xác tin của Abélard, và của nhiều tư tưởng gia khác nữa bắt đầu từ thế kỷ 12, họ sẽ tìm thấy trong triết học của Aristote một đối chiếu chung cho những suy luận và minh chứng của họ. Thánh Tô-Ma thành Aquino sẽ cố tìm đưa ra một tổng quát : một mặt ngài để cho việc thi hành tự nhiên của lí trí có chỗ đứng, mặt khác Tô-Ma nhìn nhận rằng lí trí không thể vượt xa hơn một khẳng định siêu hình về Thiên Chúa; những mầu nhiệm về Thiên Chúa Ba Ngôi, về việc Nhập Thể và Cứu Chuộc chỉ có thể được mạc khải và được đón nhận trong đức tin, cho dù khoa thần học (science théologique) có vai trò làm cho những mầu nhiệm đó trở nên thấu hiểu được đối với lí trí. Những tranh luận không phải vì vậy mà được khép lại : thánh Bonaventure cho rằng những bước đầu cho kinh nghiệm ki tô giáo không phải được bảo đảm bởi triết học mà là bởi thần học Cựu Ước, và Duns Scot nhấn mạnh sự vượt trội của ý muốn trên lí trí- nhận biết về sự thật chính nó phải được xác định bởi tình yêu.
Vấn đề lại nổi lên ở thể kỷ 16 với Luther khi ông cho rằng con người được công chính hóa nhờ bởi đức tin mà thôi (sola fide), và ông không nhìn nhận nơi đức tin bất cứ yếu tố đi trước nào thuộc phạm trù lí trí. Và ông cũng không chấp nhận rằng đối tượng của đức tin có thể bị phân chia khỏi hành vi đức tin. Lập trường tận căn này tuy vậy không đủ để tóm lược học thuyết của các Nhà Cải Cách. Những con người cải cách này sẽ không giới hạn hành vi đức tin với « sự tin tưởng » (fiducia) mà thôi. Họ cũng sẽ chú ý đến vai trò của lí trí và sẽ nhấn mạnh đến nọi dung của đức tin. Công Giáo thời hiện đại thì muốn bảo vệ những khả năng của lí trí trong sự nhận biết sự thật. Công Giáo làm điều đó không chỉ trong hành động phản đối Cải Cách Tin Lành, mà còn nhân danh một khoa biện giáo lo tạo niềm tin cho ki tô giáo dưới con mắt của sự vô tín thời hiện đại. Ðúng là khoa biện giáo có thể được thúc đẩy đem đến cho lí trí những khả năng thái qúa (quá mức), và Giáo Hội lúc bấy giờ phải can thiệp để bãi bỏ « thuyết duy lí » như vậy. Giáo Hội cũng phải bãi bỏ sự cám dỗ ngược lại của « thuyết duy tín », và công đồng Vatican I nêu ra một cách rõ ràng khả năng về một sự nhận thức chắc chắn về Thiên Chúa bằng lí trí tự nhiên. Mối nguy lớn trong những thế ký cuối sẽ là mối nguy về một sự phân li nào đó giữa đứ tin và lí trí. Cũng may là sự phân chia đó đã được Giáo Hoàng Gio-an Phao Lồ II bãi bỏ trong thông điệp Fides et ratio : « đức tin và lí trí, ngài viết, như đôi cánh cho phép thần trí con người hướng đến việc chiêm ngắm sự thật ».(2)
Như vậy, trong suốt chiều dài lịch sử, ki tô giáo đã không ngừng thảo luận với vấn đề « đức tin và lí trí ». Vậy nhưng đó không phải là một sự ngẫu nhiên đơn giản, nhưng điều đó nói lên cái gì đó về căn tính ki tô giáo.
Chắc hẳn những bác bẻ xuất hiện ngay trong thâm tâm. « Lí trí » không phải bị đánh dấu quá nặng bởi sự kế thừa từ ngôi lời hy lạp (logos) để rồi ki tô giáo phải dành cho nó một vị trí, đặc biệt trong thời đại mà việc toàn cầu hóa làm chúng ta để ý hơn nữa đến tính đa dạng của các nền văn hóa và các tôn giáo khác ? Không phải lí trí đáng ngờ hay sao, nếu ta nghĩ đến những suy thoái đã đánh dấu lịch sử Tây Phương thời kỳ hiện đại và đương đại- dù là dưới dạng « chủ nghĩa khoa học » suy giảm hoặc, còn trầm trọng hơn nữa, những ý thức hệ nhân danh lí trí tự mạo xưng là được sáng tỏ đã gây ra nào là cố chấp, bạo lực và chiến tranh ? Lí trí phải chăng vì vậy mà bị mất đi sự tin tưởng đến điểm mà ki tô giáo sẽ phải giữ khoảng cách với nó, nói đúng hơn là ki tô giáo đi tìm con đường đi của minh nơi những khoa tu đức thần bí cảm nghiệm (mystiques : thần bí học) tách rời mọi lí tính ?
Những bác bẻ đó thực ra giúp hiểu ra rằng nhiệm vụ của chúng ta ngày nay không chỉ là liên kết lí trí và đức tin- như thể yếu tố này và yếu tố kia làm nên đối tượng của một sự sở hữu yên tĩnh-, mà nhiệm vụ đó còn là phải chỉ rõ lí trí là gì dưới cái nhìn của đức tin ki tô giáo và tại sao lí trí khi được hiểu như vậy lại có giá trị đến thế đối với đức tin.
Những thảm kịch của lịch sử đương thời khiến phải nhớ lại trước hết rằng, trong truyền thống kinh thánh, việc tìm kiếm sự thật không thể bị tách khỏi đòi hỏi đạo đức. Tham vọng đến sự khôn ngoan và khoa học sẽ là hão huyền và dối trá nếu điều đó không đồng thời tìm kiếm công lí và tình yêu tha nhân. Ở đây không phải lí trí có vấn đề, mà vấn đề chính là sự quên mất nguồn thánh kinh- và vấn đề còn là sự quên đi chính lí trí, vì đáp lại những yêu sách của chính lí trí đó là việc lí trí mang trong nó mối lo âu đến người khác, nhất là nếu người khác mang gương mặt của người nghèo, ghóa bụa và mồ côi : một thứ lí trí vô nhân thì không còn là lí trí nữa.
Nhưng sự bác bẻ lại xuất hiện : tại sao còn nói về « lí trí », đến nỗi có nguy cơ làm hại đến ki tô giáo với sự kế thừa từ nguồn gốc hy lạp và từ nền văn hóa âu châu ? Thế nhưng, nếu lí trí được định nghĩa một cách chung chung như là « khả năng nhờ đó con người biết, đánh giá và thực hành theo » (Littré), nếu chấp nhận một cách chính xác hơn rằng lí trí chỉ đến năng lực phân biệt thật với giả (Descartes), vậy thì nên giữ vững lập trường rằng lí trí không chỉ là sự kế thừa từ truyền thống hy lạp, cũng không phải chỉ thuộc về tây phương mà thôi, nhưng lí trí đúng là một năng lực chung của tất cả mọi người. Cách nhìn nhận đó đủ để giải thích vị trí mà ki tô giáo phải nhìn nhận cho lí trí, ki tô giáo muốn nói đến mọi người (tout homme) và với con người trong tổng thể của nó (tout l’homme). Chắc hẳn, ki tô giáo không thể nhắm mắt trước những đồi bại và những bạo lực mà nhân loại đã phải đối đầu dưới trách nhiệm của lí trí : ki tô giáo biết con người có lỗi biết bao, lí trí con người bị thương tổn biết nhường nào, và chính cho con người tội lỗi đó mà ki tô giáo loan báo ơn cứu độ. Con người được Thiên Chúa muốn ơn cứu độ không kém như là người có lí trí, con người được mời gọi nhận biết sự thật và sống phải lẽ. Ki tô giáo không thể bác bỏ lí trí bởi vì ki tô giáo từ con người mà đi và khôg gì thuộc về con người lại xa lạ với Tin Mừng.
Nhưng lí trí chỉ là chính nó nếu lí trí thú nhận những giới hạn của riêng nó : lí trí không biết mọi sự, và ngay cả những gì lí trí biết chỉ là một phần nào thôi, và thậm chí còn rất nhỏ. Ở đây không hề có nguyên cớ nào để bài trừ lí trí : cái cao cả của lí trí không chỉ cho phép đến với những sự thật mà lí trí có khả năng đạt tới, mà lí trí còn làm cho nhận ra cái vượt quá lí trí. Ki tô giáo chờ đợi nơi lí trí một sự khiêm nhường như vậy, đó không phải là một sự yếu đuối nhưng là một cách thuận ý với huyền nhiệm của một sự thật cao trọng hơn, luôn trọng đại hơn điều mà trí lực con người có thể tự mình nắm bắt được. Tư tưởng đương đại dạy chúng ta vượt qua những đối lập khô cạn giữa lí tính và niềm tin. Những minh chứng chặt chẽ nhất không phải luôn luôn giả định trước việc chấp nhận những nguyên tắc mà thần trí con người phải tin tưởng ? Vậy nếu lí trí bao hàm chính nó dạng tin tưởng nào đó, thoạt nhìn, làm thế nào nó lại có thể không chịu mở ra với sự mạc khải ki tô giáo và để được dẫn dắt bởi sự mạc khải đến với một hiểu biết rộng hơn về sưh thật ? Kinh Thánh dạy chúng ta gón gọn rằng sự thật đó không để bị chạm tới như một vật thuần túy ngoại tại : đúng hơn là việc tìm kiếm sự thật đòi hỏi nơi tạo vật một hành vi tin tưởng, ngay chính trong lòng của mối quan hệ kết hợp tạo vật với Ðấng Tạo Hóa và cho phép tạo vật nói « vâng », « thật vậy », « amen ».
Ki tô giáo duy trì một quan hệ cần thiết với lí trí được hiểu như vậy. Nếu ki tô giáo kế thừa ngôi lời (logos) như khả năng nhận biết sự thật, thì khả năng này chính nó là thiên hướng để tin, nghĩa là sự thuận ý để không dựa vào chính mình nhưng vào « Lơì sự thật » được đón nhận trong đức tin. Vậy nhưng, khi từ chối như vậy mọi sự tự phụ, lí trí không hề bị phá hủy, nhưng được hứa đến với những chân trời cho đến lúc đó chưa hề được biết tới. Quả thật, sự mạc khải chưa từng nghe mà ki tô giáo làm chứng mở ra những không gian mới cho hành trình của trí lực. Như vậy quan hệ của Tân Ước với Cựu Ước đã cho phép một sự hiểu biết mới về lịch sử. Còn nữa cũng như vậy những học thuyết về việc Nhập Thể và Chúa Ba Ngôi đã dẫn vào trong triết học một sự hiểu biết mới về con người và sự hiệp thông giữa con người. Nhất là sự mạc khải ki tô giáo cho phép lí trí suy nghĩ trong cái mới mầu nhiệm Thiên Chúa đúng như mầu nhiệm đó được mạc khải trong sự sống, sự chết và sự sống lại của Con Thiên Chúa- vì chưa ai đã nhìn thấy Thiên Chúa bao giờ, Con duy nhất của Người đã tỏ cho biết (Ga 1, 18). Nhưng ở đây cái cao cả của lí trí là làm cho nhận biết rằng lí trí sẽ không thể chiếm hữu một mầu nhiệm như vậy : lí trí càng hiểu mầu nhiệm, lí trí càng nhận mầu nhiệm đó như cái vô cùng tận vượt xa những gì lí trí đã hiểu được- về sự bao la vô cùng tận của Thiên Chúa.
Không có một sự thật của lí trí và một sự thật của đức tin. Sự thật không phải là hai, màchỉ có một. Nhưng lí trí chỉ một mình thôi thì không đủ để nhận biết sự thật. Ðức tin có cặp mắt riêng và tạo cho lí trí thấy hơn nữa và thấy một cách khác cái mà lí trí từng thấy bằng năng lực riêng. Và lí trí được đức tin chiếu sẽ thấy nhiều hơn nữa nên người tin sẽ dấn thân vào trong một quan hệ cá nhân với Chúa. Ðiều này giống như những dụ ngôn trong Tin Mừng : nói về việc gieo hạt rơi trên đất, hay nói về kho tàng được dấu trong đồng ruộng, hay nói về mảng lưới được ném xuống biển, những dụ ngôn đó đã có ý nghĩ cho mọi người có lí trí, nhưng chúng còn có một ý nghĩa vô cùng phong phú hơn nhiều đối với các môn đệ là những người sẽ tin vào Ðức Giê Su và đức tin của họ sẽ thức tỉnh đến với những mầu nhiệm về Nước Trời. Lí trí chắc hẳn đi vào sự thật trong những giới hạn riêng của nó, nhưng lí trí được đức tin thôi thúc lại, mở ra với một sự thật sâu xa hơn. Vậy lí trí không hề xa lạ với đức tin, lí trí ở trong đức tin : làm thế nào có thể khác được nếu Chúa Giê Su phải được đồng nhất với Ngôi Lời (Logos) bên Thiên Chúa- Ngôi Lời vĩnh cửu và Lí Trí của thế gian được tạo thành ? Ðức tin ki tô giáo không chỉ cần đến lí trí, mà đức tin còn dẫn lí trí cùng đi tìm Sự Thật được mạc khải trong xác phàm của lịch sử chúng ta và nhờ sự kiện này đức tin dẫn chúng ta vào mầu nhiệm của sự sống Thiên Chúa- trong lúc chờ đợi ngày mà chúng ta sẽ không còn thấy trong một tấm gương nữa, nhưng diện đối diện, ngày mà chúng ta sẽ nhận biết như chúng ta sẽ được Thiên Chúa biết (1 Cr 13, 12), và ngày mà vinh quang sẽ chiếu ngời mãi mãi, vinh quang của « Ðấng hiện có, đã có và đang đến » (Kh 1, 8)
---
Chú thích:
1. Xuất xứ của thành ngữ này do Tertulien sử dụng : « credibile est quia ineptium est » (có nghĩa là : có thể tin được vì thật phi lý », trích từ tác phẩm La Chair du Christ (Xác phàm của Ðức Ki Tô), chương 5, câu 4)
2. Gio-an Phao Lồ II, Ðức tin và lí trí. Thông điệp Fides et ratio, phần mở đầu (Centurion/Cerf/Mame, 1998, trang. 5)
3. Ðiều đó không có nghĩa rằng việc sử dụng thông thường từ « con người » tương xứng với nghĩa mang tính kỹ thuật của nhữg từ cũ « hypotasis » và « persona » trong thần học ba ngôi; xem điểm này K. Rahner, « Thiên Chúa Ba Ngôi, nền tảng siêu nghiệm của lịch sử cứu độ », trong Mysterium salutis. Dogmatique de l’histoire du salut, vol. 6, trad. de l’Allemand, Cerf, Paris, 1971, tr. 116-122.
Văn Hào chuyển ngữ.