Nhà nước và vấn đề tôn giáo
Theo tự điển bách khoa, Quốc gia được định nghĩa là một cộng đồng dân cư cùng sống chung trên một vùng lãnh thổ và cùng có chung một trật tự hay một luật pháp; được họp thành : hoặc bởi đại đa số dân cư đó cùng có chung một chủng tộc, một nền văn hóa và một tôn giáo, hoặc bởi nhiều nhóm dân cư có chủng tộc, có nền văn hóa và tôn giáo khác nhau. Nói cách khác, một Quốc gia được dựa trên ba yếu tố : Dân cư, vùng lãnh thổ và quyền bính. Trong khi đó, Nhà nước, được định nghĩa là một bộ máy chịu trách nhiệm tổ chức và điều hành mọi công việc thuộc nhiều lãnh vực khác nhau của một Quốc gia, như : An ninh, hành pháp, quốc phòng, ngoại giao, kinh tế, thương mại, giáo dục, khoa học, v.v…, mà đứng đầu là chính phủ và các bộ ngành cũng như các cơ quan trực thuộc, từ trung ương đến địa phương.
Qua đó, chúng ta thấy rằng thái độ và cách thức hành sử của một Nhà nước là phải toàn toàn có tính cách trung lập trong trọng trách cai trị nước, điều hành bộ máy quốc gia hay phục vụ đại chúng nhân dân, chứ không được thiên tư hay phe phái; nếu không, chắc chắn sẽ gây ra bất bình, xáo trộn và bất an, nguy hiểm cho phúc lợi chung của xã hội. Trong phạm vi bài này chúng tôi chỉ đề cập đến tính cách trung lập của một Nhà nước, được giới hạn trong vấn đề tôn giáo như chủ đề đã nêu lên mà thôi.
1. Tính cách trung lập của Nhà nước
Vâng, một Nhà nước khi đứng ra lãnh đạo Quốc gia, điều hành bộ máy chính phủ để phục vụ cho phúc lợi chung của dân chúng, thì cần phải hoàn toàn trung lập, và tính cách trung lập đó của một Nhà nước được phát xuất từ :
1.1. Tự bản chất của một Nhà nước
Ðúng vậy, nếu trách nhiệm của một Nhà nước là phục vụ cho Quốc gia, nghĩa là cho cộng đồng dân tộc, cho cộng đồng những người dân cư trên vùng lãnh thổ của Quốc gia mình; và dĩ nhiên, cộng đồng dân cư đó không nhất thiết phải là đơn nhất và đồng nhất về chủng tộc, ngôn ngữ, chính kiến, nhất là về tôn giáo, nhưng có thể thuộc nhiều chủng tộc, ngôn ngữ, văn hóa, tư tưởng, chính kiến và nhất là thuộc nhiều tôn giáo khác nhau, tùy theo lương tâm và sự tự do lựa chọn của mỗi người dân, thì vai trò của Nhà nước là phải tuyệt đối trung lập.
Bổn phận chính của Nhà nước là nắm giữ, là điều hành bộ máy hành chính của quốc gia hay của đất nước sao cho được hoàn mỹ và đúng đắn, để cuộc sống và mọi sinh hoạt của xã hội được hài hòa và được thăng tiến, và để mọi tầng lớp dân chúng thuộc các tôn giáo khác nhau được an cư lạc nghiệp, được hạnh phúc ấm no, chứ một Nhà nước không có bổn phận và không có quyền áp dụng theo một mô hình hay một đường lối chính trị về tôn giáo một cách thiên lệch, như lấy một tôn giáo nào đó làm quốc giáo và bắt buộc toàn thể dân chúng trong nước phải tin theo, hay chủ trương vô thần và áp đặt chủ trương đó lên đại chúng nhân dân, đề xuất những chính sách có tính cách kỳ thị, đàn áp và cấm cản các tín hữu thuộc các tôn giáo trong việc sống đạo và hành đạo của họ.
Dĩ nhiên, xét như từng cá nhân, từng đoàn thể hay từng đảng phái, người ta có quyền được tự do lựa chọn cho mình khuynh hướng hữu thần hay vô thần, nghĩa là tin theo một tôn giáo hay không tin theo một tôn giáo nào cả. Ðó là vấn đề lựa chọn tư riêng, vấn đề lương tâm của mỗi người hay của mỗi đoàn thể. Nhưng một Nhà nước dân chủ và tiến bộ, trong tư cách là những người chịu trách nhiệm điều khiển guồng máy của một quốc gia, của một dân tộc đa dạng, hoàn toàn không được phép lấy tôn giáo làm quan điểm hay đường lối chính trị, hoặc nói rõ hơn, làm đường lối cai trị dân, trừ khi nhà nước đó là một Nhà nước độc tài, không dân chủ, không tôn trọng sự tự do của dân.
Bởi vì, khi một đảng phái dành được chiến thắng trong việc tranh cử, nghĩa là được đại đa số nhân dân tín nhiệm bỏ phiếu và giao phó cho trọng trách điều hành bộ máy quốc gia, thì những người của đảng phái đó khi được đề cử ra gánh vác việc nước như thế, đương nhiên trở thành người của đại chúng, nên phải có thái độ trung lập, độc lập với mọi đảng phải, kể cả đảng phái riêng của mình, và không can thiệp và nội bộ các tôn giáo. Ví dụ : Ở Hoa kỳ, khi một người - dù thuộc đảng Cộng hòa hay đảng Dân chủ - được đảng chọn đứng ra tranh cử, và khi thắng cử, nghĩa là được đại đa số dân chúng tín nhiệm bỏ phiếu cho để trở thành Tổng thống, thì người ấy là Tổng thống chung của toàn thể trên 200 triệu nhân dân Hoa Kỳ thuộc đủ mọi tôn giáo khác nhau, chứ không còn là Tổng thống riêng của đảng Cộng hòa hay đảng Dân chủ nữa. Cũng vậy, ở Cộng Hòa Liên Bang Ðức, dù thuộc đảng Thiên Chúa Giáo CDU hay đảng Xã Hội SPD được thắng cử, thì vị Thủ tướng đó là người đại diện cho toàn thể trên 80 triệu nhân dân Ðức thuộc mọi đảng phái và tôn giáo khác nhau và phụng sự quyền lợi tối cao của cả dân tộc Ðức, chứ không còn là một vị Thủ tướng chỉ lo cho lợi ích riêng của đảng mình. Dĩ nhiên, trong đường lối điều hành bộ máy quốc gia, vị Tổng thống Hoa Kỳ hay vị Thủ tướng Ðức Quốc vẫn bị ảnh hưởng ít nhiều của khuynh hướng và quan điểm của đảng mình, nhưng các chính sách và đường lối chính trị cơ bản của các vị đó phải được đặt cơ sở trên luật pháp hợp lý của quốc gia, trên phúc lợi chung của toàn thể nhân dân của họ, chứ không đặt trên cơ sở của đảng phái mình. Bởi vì quyền lợi Quốc gia là quyền lợi tối cao, là quyền lợi của tất cả mọi người dân, còn các đảng phái chính trị chỉ là những đoàn thể tư riêng, nên quyền lợi của họ chỉ là quyền lợi của một nhóm người thiểu số, chứ không phải của toàn thể nhân dân.
Trong bài giảng khi cử hành Thánh Lễ tại công trường José Marti ở thủ đô Havanna của Cuba vào ngày 25.01.1998, trước sự hiện diện của Chủ tịch nước Fidel Castro và của hàng triệu người tham dự, Ðức Gioan Phaolô II đã thẳng thắn tuyên bố quan điểm đúng đắn của Giáo Hội Công Giáo về vai trò của một Nhà nước trong vấn đề tôn giáo như sau: « Một Nhà nước hiện đại không được phép lấy chủ thuyết vô thầm hay tôn giáo để làm quan điểm chính trị. Nhà nước cần tránh các chủ nghĩa quá khích và tục hóa cực đoan, đồng thời cổ võ một bầu không khí hài hòa trong xã hội và một pháp luật hợp lý, hầu cho mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đồng tôn giáo có thể tự do sống đạo và hành đạo cách công khai. Các cá nhân và các cộng đồng tôn giáo cần có đầy đủ phương tiện và tự do, hầu nhờ vào sự phong phú về mặt tinh thần, về mặt luân lý và dân sự của mình, họ có thể đóng góp tích cực vào sinh hoạt của các đất nước liên hệ »(1).
Ngoài ra, khi điều hành bộ máy Quốc gia, Nhà nước phải giữ thái độ trung lập trong vấn đề tôn giáo của nhân dân, bởi vì tính cách đa dạng của tôn giáo.
1.2. Tính cách đa dạng về tôn giáo của đại chúng
Nếu trong một quốc gia Nhà nước đóng vai trò người giữ trật tự, người cầm cân nảy mực hay đóng vai trò người trọng tài trong mọi sinh hoạt của đại chúng nhân dân, thì Nhà nước phải có những chính sách và thái độ hoàn toàn trung lập về tôn giáo, chứ không được chủ trương kỳ thị hay thiên vị. Bởi vì, trước một cộng đồng dân tộc hàng triệu triệu người, đương nhiên tính cách đa dạng về tôn giáo của dân tộc đó là một điều đương nhiên, không thể tránh được.
Vâng, trong một xã hội nhân loại từ ba người trở lên, những khác biệt, nghĩa là tính cách đa dạng giữa họ, đã bắt đầu hiện rõ nét : mỗi người có mỗi ý thức, mỗi hiểu biết và mỗi thâm tín tôn giáo riêng, vì mỗi người được Thiên Chúa Tạo Hóa phú bẩm cho một lương tâm, một trí năng và một ý chí hoàn toàn tự do, đến nỗi chính Thiên Chúa cũng không có quyền can thiệp vào. Ðó là những sở hữu thánh thiêng nhất của một nhân vị. Chính lương tâm và ý chí tự do đó làm nên nhân phẩm và nhân vị con người. Và nhờ đó, mỗi người được tự do lựa chọn và sống theo một tôn giáo mà lương tâm người đó cho là đúng và có thể mang lại cho đời sống tinh thần và tâm linh họ sự an bình, hạnh phúc và sự cứu rỗi.
Bởi vậy, khi vì bì bất cứ lý do ngoại tại nào cấm cản và áp đặt, khiến con người không còn có thể sống theo lương tâm và ý chí tự do của mình được nữa, thì mọi giá trị của các quyết định và hành động của con người trong tình trạng đó đều vô hiệu hóa, đều không có giá trị, tức trở nên vô thưởng vô phạt. Trong trường hợp đó, những người trong cuộc chỉ là những bộ máy hoàn toàn thụ động và được điều khiển bởi những tác nhân ngoại tại, chứ không còn là những nhân vị thực sự với đầy đủ các phẩm giá của mình.
Và khi một Nhà nước, một nhóm người hay một cá nhân, dùng bạo lực và quyền hành để chế ngự lương tâm và ý chí tự do của những người khác dưới quyền như thế, chẳng những đã xúc phạm đến phẩm giá thiêng liêng và các nhân quyền cơ bản cao quý của con người, mà còn xúc phạm đến chính Thiên Chúa Tạo Hóa, Ðấng đã phú bẩm cho mỗi nhân vị những phẩm tính và khả năng cao cả đó nữa.
Bởi vậy, trong Sứ điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới năm 1988, Ðức Phaolô II đã minh định : « Nhà nước không có quyền yêu sách gì trên những thâm tín tôn giáo của các nhân vị, dù trực tiếp hay gián tiếp. Nhà nước không có thể tự chiếm đoạt quyền áp đặt hay ngăn cản sự tuyên xưng và sự hành đạo công khai của một người hay của một đoàn thể. Bổn phận của các nhà chức trách dân sự trong lãnh vực này là bảo đảm sao cho quyền lợi các cá nhân cũng như của các đoàn thể luôn được tôn trọng như nhau và đồng thời phải duy trì trật tự công cộng đúng đắn… Không bao giờ bộ máy Nhà nước được phép tự đặt mình thay thế cho vai trò lương tâm của người công dân, được phép tước bỏ mọi sinh hoạt của các cộng đồng tôn giáo hay chiếm đoạt chỗ đứng của các cộng đồng tôn giáo đó. »(2).
Nhưng khi đề cập đến quyền tự do, tự quyết của con người như thế, có lẽ sẽ có những phản ứng khác nhau, nhất là sẽ không có ai tự bảo mình đã xúc phạm hay tước đoạt quyền tự quyết của kẻ khác, dù trong thực tế họ đã và đang hành động ngược lại, vì điều đó tùy thuộc vào sự nhận thức và sự hiểu biết của những cá nhân hay đảng phái liên hệ thế nào về sự tự do.
Ở đây chúng ta thử nhìn lại cách tổng quát về ý niệm tự do của các luồng tư tưởng trong xã hội nhân loại như thế nào.
Theo quan điểm triết học của người Hy-lạp xưa kia, thì sự tự do (eleutheria) là một đặc điểm thuộc nam giới, thuộc những người Hy-lạp và thuộc những người sống trong các thành phố tự do. Còn đàn bà nói chung – dù là người Hy-lạp hay không, dù nộ lệ hay ngoại kiều - đều không có liên quan gì tới sự tự do cả. Sở dĩ người Hy-lạp giới hạn sự tự do của con người trong một phạm vi rõ ràng như thế, là vì quan niệm triết học của họ về Thượng Ðế như là một Ðệ nhất Nguyên ủy hay Ðệ nhất Tác nhân, mà Thượng Ðế được họ quan niệm là thuộc phái nam.
Trong khi đó, người Roma lại chia xã hội ra làm ba giai cấp :
- Người công dân Roma tự do,
- Các dân tộc bị Roma đô hộ,
- Giới nô lệ.
Còn đối với những nước có đại đa số dân chúng theo đạo Hồi Giáo, thì mọi người dân hoàn toàn được tự do sống đạo và hành đạo, nhưng đạo ở đây chỉ được hiểu là Hồi Giáo mà thôi, chứ những người dân theo tôn giáo khác sẽ bị bắt bớ sách nhiễu hay ít là bị kỳ thị tối đa, như tại các nước Iran, Irak, Pakistan, Afganistan, Indonesia, v.v…và nhất là tại Sauđi Arabien : tất cả mọi vết tích và mọi việc thờ phượng của các tôn giáo khác – dù công khai hay tư riêng – hoàn toàn bị cấm đoán. Ai lỗi phạm sẽ bị xử tử hay bị tống giam. Còn những công dân Hồi Giáo của họ bỏ Hồi Giáo và theo đạo khác sẽ bị xử tử ngay.
Và cuối cùng, những người theo chế độ cộng sản cũng đặt cao vấn đề tự do, như câu nói nỗi danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh : « Không có gì quý hơn độc lập và tự do ». Nhưng cách thức thực hành, lại còn tùy thuộc vào quan điểm của họ hiểu thế nào về ý niệm tự do nữa. Cụ thể, người theo đảng cộng sản hay chủ trương chế độ cộng sản, chỉ chấp nhận cho mọi công dân được tự do tư duy, được tự do phát ngôn và được tự do hành động, nhưng phải tư duy trong phạm trù tư duy của đảng, phải phát biểu theo đúng với các chỉ thị của đảng và phải hành động đúng với đường lối cũng như chính sách của đảng. Còn ngược lại, sẽ rất dễ bị ghép vào tội phản động, hay phá hoại xã hội chủ nghĩa, v.v … ! Ðiều đó cũng muốn nói rằng trong một Nhà nước cộng sản không có chỗ đứng cho các đảng phái đối lập. Ở đây, sự tự do không được hiểu đúng theo ý nghĩa khách quan của nó, tức tự do tư duy theo nhận thức riêng của mình; tự do phát ngôn theo điều mình tư duy và tự do hành động theo các phán đoán của mình !
Bởi vậy, chúng ta thử tìm hiểu qua về một Nhà nước trong chế độ cộng sản.
2. Nhà nước cộng sản
Qua những dòng phân tích trên đây, chúng ta thấy rằng Quốc gia không phải là Nhà nước và Nhà nước không phải là đảng phái đang cầm quyền.
Nhưng đối với những người cộng sản, họ lại đồng hóa đảng với chính phủ, với Nhà nước và với quốc gia nữa, chứ họ không còn coi đảng cộng sản là một thành phần dân chúng như bao thành phần dân chúng khác. Chẳng những thế, họ còn đồng hóa quyền lợi của dân tộc, của toàn thể nhân dân với quyền lợi của đảng; nếu không nói là họ còn coi quyền lợi của đảng hơn cả quyền lợi của Nhà nước. Bằng chứng là trật tự giai cấp trong một chế độ cộng sản đã nói lên điều đó : Nhân vật quan trọng nhất không phải là Chủ tịch nước, nhưng là Tổng bí thư đảng, còn Chủ tịch nước là người chịu trách nhiệm trước quốc dân đồng bào, lại đứng vị trí thứ hai, tiếp đến là Thủ tướng và các vị đứng đầu cac cơ quan nhà nước khác.Còn đối với quyền tư hữu đều không được pháp luật bảo đảm chắc chắn. Cụ thể, Nhà nước dưới sự chỉ huy của đảng có toàn quyền trưng dụng, tịch thu hay « mượn » dài hạn các tài sản - động sản hay bất động sản - của nhân dân : của các tư nhân, của các đoàn thể, của các cộng đồng tôn giáo, vì bất cứ lý do gì và không cần phải quan tâm đến sự đồng ý hay không của những người dân liên hệ.
Cũng vì quan niệm chủ quan một chiều như thế, nên luật pháp Quốc gia trong một Nhà nước cộng sản thường không được tiên quyết dùng để bảo vệ an ninh và hạnh phúc cho xã hội, cho đại chúng nhân dân, nhưng trước hết được dùng như phương tiện để phục vụ quyền lợi và mục đích của đảng, dưới tiền đề : « Ðể xây dựng xã hội chủ nghĩa ! ». Bởi lẽ, đảng và nhân dân được họ quan niệm là một !
Từ chỗ quan niệm và thực hành đặc thù, khác với quan niệm và cách thực hành tại các nước tiến bộ như thế, nên mỗi lần Tổng bí thư đảng cộng sản đi thăm viếng các nước tân tiến Âu-Mỹ thường gặp phải trục trặc trong phương diện luật ngoại giao, là ai trong bộ máy chính quyền của nước chủ nhà sẽ ra phi trường đón tiếp vị Tổng bí thư ? Vì theo luật ngoại giao quốc tế nói chung và của các nước Âu-Mỹ nói riêng, Ðảng trưởng hay Tổng bí thư của một đảng chính trị chỉ là một cá nhân tư riêng, chứ không được xếp vào hàng ngũ Quốc trưởng, Tổng thống hay đại diện tối cao của một Quốc gia được. Do đó, các Tổng bí thư của Trung Cộng hay của Liên Sô trước kia thường đồng thời giữ chức vị Chủ tịch Nhà nước.
Nói tóm lại, một Nhà nước hiện đại và tiến bộ là bộ máy điều hành tất cả mọi công việc thuộc mọi lãnh vực khác nhau của Quốc gia, là cơ quan tối cao lãnh đạo đại chúng nhân dân thuộc mọi khuynh hướng chính trị và tôn giáo khác nhau. Vì thế, các đường lối, các chính sách và các thái độ của Nhà nước, từ trung ương cho đến địa phương, cần phải mang tính cách hoàn toàn trung lập, chứ không được quá khích, thiên vị, kỳ thị. Bởi vì, trọng trách chính yếu của một Nhà nước là lo cho mọi người dân được an cư lạc nghiệp, được tự do phát triển nhân vị của mình, nhất là được tự do lựa chọn và được tự do tin theo một tôn giáo đúng với lương tâm của họ.
Ðược như vậy, mới thực sự là tự do dân chủ, xã hội mới văn minh tiến bộ, nhân dân mới ấm no giàu mạnh và Quốc gia mới hùng cường thịnh vượng.
_____________
(1) Ðức Gioan Phaolô II, Lương Tâm Nhân Loại, bản dịch của Lm Nguyễn Hữu Thy, Trier 2006, tr. 116.
(2) Như trên, tr. 109.
(3) Sách Tông Ðồ Công Vụ đoạn 22,22-29