Khi nêu tên Joe Binden làm người đứng chung liên danh ra ứng cử, Barack Obama đã không chỉ chọn một người Công giáo như bất cứ người Công giáo nào. Ông ta đã lựa một người đi lễ hàng tuần, người đã có lần dọa lấy cỗ tràng hạt mân côi của mình tọng vào cổ họng tên đảng viên Cộng hoà nào dám nói ông không phải là người mộ đạo.

Obama, khi giới thiệu người mình lựa chọn vào vị trí số 2, đã hai lần đề cập đến tôn giáo Biden đang theo. Nhưng đức tin của Biden có thể làm tăng lên được bao nhiêu phiếu cho liên danh đảng Dân chủ này?
Obama và Biden


Trong một đất nước có 24% dân số là người Công giáo – nhóm tôn giáo đơn thuần lớn nhất – điều này không giản dị như thế, bởi vì suốt bao năm qua, người Công giáo không còn là những đảng viên Dân chủ trung kiên như đã có thời họ trung thành với đảng này.

John White tại trường Đại học Công giáo Hoa kỳ ở Washington nói rằng: “Điều quan trọng cần biết về số phiếu Công giáo là: không hề có ‘phiếu bầu Công giáo’.

White là một giáo sư dậy môn chính trị. Ông nói mức ghi dấu cao độ đối với cử tri Công giáo là vào năm 1960, khi đảng viên Dân chủ John F. Kennedy tạo nên lịch sử với chức vụ là tổng thống Công giáo đầu tiên, chiếm được 78% số phiếu của cử tri Công giáo. Tuy vậy, vào lúc này đây, căn tính Công giáo có khuynh hướng chỉ còn là một trong những đặc điểm các tín hữu này đem theo khi đi vào phòng phiếu, cùng với những yếu tố khác như mầu da, phái tính, giai cấp, trình độ học vấn, và quan niệm về sinh lý.

Các nhà chuyên môn nói rằng tín hữu Công giáo bảo thủ - những người chống phá thai và hôn nhân đồng phái – thiên về phía đảng Cộng hòa. Giáo dân cấp tiến - những người ủng hộ công lý xã hội, chống chiến tranh và án tử hình – thường có khuynh hướng là đảng viên Dân chủ. Người Công giáo gốc Âu châu, như Ái nhĩ lan, Ý và Balan, khi họ leo lên được các nấc thang kinh tế và định cư ở vùng ngoại ô, thì nghiêng về phía đảng Cộng hòa. Nhưng người Công giáo gốc Hispanic – là một nhóm đang lớn mạnh dần – lại ngả theo đảng Dân chủ.

John Green, một chuyên viên cao cấp tại Diễn đàn Pew chuyên về Tôn giáo và Đời sống Công cộng, nói: Ở giữa hai cực của quang phổ này “còn có một khu vực trung lập khá lớn. Và một số lớn người Công giáo lựa chọn tùy theo từng trường hợp một, tùy theo từng lần bầu cử một.”

Trong mấy thập niên vừa qua, người Công giáo đã đong đưa qua lại giữa hai đảng phái trong các cuộc bầu cử tổng thống. Tổng thống Bush chiếm được đa số phiếu của họ năm 2004, sau ba lần đảng viên Dân chủ Al Gore và Bill Clinton thắng thế. Trước đó, đảng Cộng hòa chiếm được cơ may thắng thế trong ba kỳ bầu cử, nhờ ở George H. W. Bush và Ronald Reagan. Trước đó nữa, Jimmy Carter chiếm được số phiếu của người Công giáo năm 1976, cũng như Richard Nixon chiếm được năm 1972. Ông White nói: “ Kể từ năm 1964 khi Lyndon Johnson thắng lớn, người Công giáo đã như một dòng nước rò rỉ chậm chạp chảy ra khỏi đảng Dân chủ.”

Ông nói: có một sự phân chia văn hóa thích đáng hơn tách biệt những người đi nhà thờ đều đặn và những người không. Người đi lễ đều đặn thường theo đảng Cộng hòa. Rồi có những người mà tôn giáo đối với họ chỉ là một hiện tượng nội tâm. White gọi họ là đám người chủ trương “tôn giáo của tôi là cho riêng tôi, không dành cho bạn” và ông nói rằng đối với họ, hàng giáo phẩm là một tiếng nói luân lý, nhưng không phải chỉ là một tiếng nói duy nhất. Những người này thường là đảng viên Dân chủ.

Nếu liên danh Obama-Biden thắng cử năm 2008 thì đó là một thành tích lịch sử. Hoa kỳ chưa bao giờ có một phó tổng thống theo đạo Công giáo cả. Bản danh sách những người Công giáo được đề cử ra tranh chức tổng thống của hai đảng phái lớn cũng rất ngắn: Kennedy thắng cử; trước đó là Al Smith, được đảng Dân chủ chọn ra tranh cử năm 1928, đã thất bại. Cũng thế, đảng viên Dân chủ John Kerry thua trong cuộc bầu cử năm 2004.

Cho đến nay, những người Công giáo được đề cử tranh chức phó tổng thống cũng đã không đem được nhiều may mắn đến cho liên danh của mình. Đó là những đảng viên Dân chủ Geraldine Ferraro ra tranh cử trong liên danh của Walter Mondale năm 1984, Sargent Shriver được McGovern chọn đứng chung liên danh năm 1972 (sau khi Tom Eagleton bỏ cuộc vì có những tiết lộ rằng ông đang điều trị tai nạn bị điện giật), và Ed Muskie trong liên danh với Hubert Humphrey năm 1968. Trước đó, năm 1964, đảng viên Cộng hòa Barry Goldwater đã chọn William Miller ra ứng cử chức vụ phó tổng thống.

Năm nay, số những người Công giáo da trắng không thuộc gốc Hispanic – nhóm này được các nhà khoa học chính trị nói sẽ đi bầu nhiều hơn số người Công giáo gốc Hispanic – đang được phân chia đồng đều giữa John McCain và Obama, theo cuộc thăm dò của Trung tâm Nghiên cứu Pew: 45% ủng hộ và 44% ủng hộ Obama.

Vì thế, chuyện Obama đang nỗ lực giành lấy người Công giáo, trong khi McCain hung hăng ve vãn họ, là điều không làm ta ngạc nhiên. Cũng cuộc thăm dò nói trên cho biết, thành phần rất quan trọng là những người còn do dự chưa xác định bầu cho ai, những người còn mở ngỏ cho cuộc bán buôn, chiếm hơn 20% số người Công giáo.

Hầu hết các nhà phân tích nghĩ rằng Biden có thể giúp cho Obama đạt được một số phiếu Công giáo – nhưng chắc chắn là không phải tất cả.

Tại trường Đại học Notre Dame, nhà khoa học chính trị David Campbell nghĩ rằng quá khứ đi từ hạnh phúc đến khổ cực của Biden mới là chìa khóa làm nên chuyện. Ông nói: “Hình ảnh người Công giáo thuộc giới lao động là một phần trong bản chất Hoa kỳ được mô tả trong văn chương và điện ảnh. Người ta có thể coi đó như là một thí dụ điển hình mẫu mực. Cuộc đời của Obama không có điểm nào phù hợp với những loại hình đó. Chúng ta không có một loại người một nửa gốc Hawai, một nửa gốc Kenya, đã sống cuộc đời đây đó khắp nơi.

Nguồn: Katherine Skiba /US News & World Report