Lộ đức (CNS) – Làm giáo hoàng không phải là một công việc chỉ có một chiều, đó là sự kiện thật hiển nhiên trong 4 ngày thăm viếng nước Pháp của Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI.

Đến Paris ngày 12 tháng 9, trước nhất Đức giáo hoàng thực hiện một cuộc gặp gỡ chính trị quan trọng trong nỗ lực dựa vào sự cởi mở mới đối với giáo hội để tiến bộ, được Tổng thống Nicolas Sarkozy bày tỏ.

Kế đến trong cuộc gặp gỡ ngắn ngủi với người Do thái, ngài đã khéo léo thu tóm lòng tôn trọng Do thái giáo và lập trường chống đối mạnh mẽ phong trào bài Do thái của giáo hội chỉ trong 20 dòng chữ lịch sự thanh nhã.

Buổi chiều hôm đó, Đức giáo hoàng lại khoác vào người vai trò học thuật để trình bày một diễn từ về ảnh hưởng của đời sống đan viện đối với văn hóa Tây phương, trước một cử tọa gồm 700 nhà học giả và trí thức.

Thế rồi ngài lại như người lái xe, sang số khác, đến hướng dẫn buổi kinh chiều tại Nhà thờ Chính tòa Notre Dame cùng với các linh mục và tu sĩ, nhấn mạnh đến điểm dù hàng ngũ của họ có thể mỏng dần nhưng vai trò của họ trong giáo hội đã không mất đi chút nào giá trị và quả thực không thể thay thế được.

Cuối cùng ngài bước ra ngoài, làm sinh động cả một đám đông 40 ngàn người trẻ đang chờ đợi, kéo theo những tiếng hoan hô rầm rộ khi ngài nói giáo hội cần đến họ và đặt niềm tin vào họ.

Đó là một buổi khởi đầu ào ạt và chứng tỏ một sự đa dạng khác thường trong công tác mục vụ nơi một vị giáo hoàng đã già 81 tuổi.

Ngày kế tiếp, sau khi cử hành Thánh lễ ở Paris trước một một đám đông nhiều hơn dự tính, ngài đi tới Lộ đức và bày tỏ một khiá cạnh khác trong vai trò của một vị mục tử hoàn vũ – đó là khía cạnh liên hệ đến Đức Mẹ Maria.

Điều không còn lạ lẫm gì, vì là một nhà thần học và một vị giám mục, Đức giáo hoàng Bênêđictô đã không phải lúc nào cũng cảm thấy thoải mái trước sự sùng kính Đức Mẹ và những khi người ta cho biết Đức Mẹ hiện ra ở chỗ này chỗ kia. Nhưng rồi theo năm tháng, ngài đã mở rộng nhãn quan, như năm 2002 ngài có nói rằng “càng già, tôi cảm thấy Mẹ Thiên Chúa càng quan trọng hơn đối với tôi.”

Vì thế tại Lộ đức, người hành hương nghe được tiếng vị giáo hoàng học giả giảng thuyết về giá trị của “lời kinh nguyện khiêm tốn và mãnh liệt” như kinh mân côi. Ngài nói với thính giả rằng lòng tôn sùng Đức Mẹ không phải là một hình thức “sốt sắng kiểu trẻ con” nhưng là một biểu tỏ của sự trưởng thành về tâm linh.

Khi ngài uống nước từ dòng suối ở Lộ đức mà nhiều người hành hương tới đây tin tưởng rằng là giếng phép lạ chữa lành bệnh tật, ngài chứng minh rằng người Kitô hữu sống bằng những dấu chỉ và biểu trưng đơn sơ cũng như bằng các ý tưởng thần học cao siêu.

Cuộc tông du tới Lộ đức của Đức giáo hoàng có thể so sánh được với cuộc viếng thăm cảm động của Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II tới đền thánh này vào năm 2004. Yếu đau và bước đi không vững, trên bàn thờ đức cố giáo hoàng đã phải nhờ người giúp đỡ, và đó là chuyến tông du cuối cùng của ngài ra ngoài nước Ý.

Cá nhân Đức giáo hoàng Bênêđictô đã không phải chịu khổ đau như người tiền nhiệm, nhưng chắc chắn ngài để cho mọi người biết rằng mục vụ đối với người đau yếu là mốc độ cao của đạo Công giáo.

Trong thánh lễ cử hành cùng với hàng ngàn người bệnh hoạn vào hôm 15 tháng 9, ngày sau cùng trong chuyến tông du, ngài cám ơn người Công giáo tại Lộ đức và trên toàn thế giới đã tự nguyện cung ứng thời giờ và nỗ lực để giúp đỡ người tàng tật.

Điều đó đã ghi đậm một chủ đề trong triều đại của Đức giáo hoàng Bênêđictô, một chủ đề ngài đã nhấn mạnh trong các tông thư nhưng đôi khi ít được chú ý: đó là lòng bác ái cá nhân – yêu thương trong hành động – là biểu hiệu cơ bản của niềm tin vào Đức Giêsu Kitô.

Một điều khác biệt khác nữa giữa Đức giáo hoàng Bênêđictô và Đức giáo hoàng Gioan Phaolô đã nổi trội lên trong cuộc thăm viếng này. Vị cố giáo hoàng trong chuyên công du đầu tiên tới Pháp năm 1980 đã nghiêm khắc phê phán người dân Pháp xa rời đức tin, hỏi người Công giáo ở đây: “Hỡi nước Pháp, trưởng nữ của giáo hội, người có còn trung thành với lời hứa khi chịu phép thanh tẩy?”

Đức giáo hoàng Bênêđictô dùng một tiến độ mềm dẻo hơn, tuy có ám chỉ đến các khó khăn về mục vụ nhưng chú tâm vào các điểm tích cực – chẳng hạn đám đông đầy nhiệt tình tới 260 ngàn người tham dự phụng vụ do ngài cử hành ở Paris. Trong diễn từ sau cùng nói với người Công giáo Pháp, ngài khen ngợi họ vì có “đức tin mạnh mẽ” và nói rằng chính ngài cũng được khuyến khích do sự tham gia đông đảo của giới trẻ trong đêm canh thức tại Paris.

Nơi ngài đưa ra các khuyến dụ có tính cách giảng huấn là buổi nói chuyện với các giám mục Pháp. Ngài đá động tới một điểm nhức nhối khi thúc giục các giám mục phải tỏ ra mềm dẻo đối với những người theo chủ thuyết truyền thống đang muốn lợi dụng sự thay đổi luật lệ ngài đưa ra về cách dùng nghi thức Tridentino, đó là nghi thức Thánh lễ được dùng trước khi có Công đồng Vatican II.

Tuy thế, xét về tổng quan, Đức giáo hoàng đã đóng khung sứ điệp của ngài trong những từ ngữ lạc quan. Khi nói với các nhà chính trị, các cán bộ mục vụ, các học giả, người bệnh hoặc giới trẻ, ngài nhấn mạnh rằng tại nước Pháp đây giáo hội đang như ở trong nhà của mình, và tiếng nói của giáo hội đó – kể cả những tiếng nói trong lời cầu kinh – phải được tiếp tục lắng nghe.